Lượt xem: 1127

Bàn về cơ chế tổ chức thi hành nghĩa vụ bồi thường của cơ quan nhà nước theo bản án, quyết định của Toà án

ThS. Nguyễn Phúc Đạt
Ngày 20/6/2017, tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2018. So với Luật TNBTCNN năm 2009, Luật TNBTCNN năm 2017 có nhiều điểm mới như: nguyên tắc bồi thường của Nhà nước; thời hiệu yêu cầu bồi thường; văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường; phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; thiệt hại được bồi thường; cơ quan giải quyết bồi thường; trình tự, thủ tục giải quyết bồi thường; thủ tục chi trả bồi thường và trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ;... trong đó có nội dung sửa đổi, bổ sung đã tác động đến cơ chế tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại. Theo đó, kể từ thời điểm Luật TNBTCNN năm 2017 có hiệu lực (ngày 01/7/2018), một vụ việc dân sự khởi kiện ra Tòa án yêu cầu phải bồi thường sẽ được điều chỉnh đồng thời bởi Luật THADS (theo cơ chế bảo đảm tài chính) và Luật TNBTCNN (theo cơ chế bồi thường nhà nước).
Hiện nay đang tồn tại hai cơ chế thi hành nghĩa vụ bồi thường của cơ quan nhà nước theo bản án, quyết định của Tòa án đó là: bồi thường nhà nước (áp dụng Luật TNBTCNN và các văn bản hướng dẫn thi hành để giải quyết) và bảo đảm tài chính (áp dụng Luật THADS và các văn bản hướng dẫn thi hành để giải quyết). Tuy nhiên, trên thực tế, việc nhận thức và áp dụng hai cơ chế này để thi hành nghĩa vụ bồi thường của cơ quan nhà nước theo bản án, quyết định của Tòa án còn chưa rõ ràng, thấu đáo và gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, nhằm thống nhất cách hiểu cũng như việc áp dụng pháp luật trong thời gian tới đòi hỏi phải có sự nghiên cứu cụ thể về vấn đề này.

1. Cơ chế hiện hành để thi hành nghĩa vụ bồi thường thiệt hại của cơ quan THADS theo bản án, quyết định của Tòa án

1.1. Giải quyết theo cơ chế bồi thường nhà nước

Theo quy định tại khoản 2 Điều 40 Luật TNBTCNN năm 2009: "Cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự là cơ quan thi hành án dân sự trực tiếp quản lý người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại”. Song song với đó là quy định về trình tự, thủ tục giải quyết bồi thường, theo đó, người yêu cầu bồi thường trước tiên phải nộp đơn cùng tài liệu đến cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại. Cơ quan THADS có trách nhiệm giải quyết bồi thường sẽ thụ lý, giải quyết bồi thường. Hết thời hạn ban hành Quyết định giải quyết bồi thường mà cơ quan THADS không ban hành hoặc ban hành nhưng người yêu cầu bồi thường không đồng ý với nội dung Quyết định giải quyết bồi thường thì người yêu cầu bồi thường có quyền khởi kiện ra Tòa án (khoản 1 Điều 22 Luật TNBTCNN năm 2009). Sau khi Tòa án xét xử, trường hợp bản án, quyết định của Tòa án tuyên buộc cơ quan THADS phải bồi thường cho người yêu cầu bồi thường, lúc này, việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án nêu trên được áp dụng trình tự, thủ tục bồi thường nhà nước để thực hiện (cơ quan THADS có trách nhiệm bồi thường sẽ lập hồ sơ đề nghị cấp kinh phí bồi thường gửi Tổng cục THADS để thẩm định, đề nghị Bộ Tài chính cấp kinh phí - Điều 54 Luật TNBTCNN năm 2009).

1.2. Giải quyết theo cơ bảo đảm tài chính

Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 07/2016/TTLT-BTP-BTC: "Trường hợp nghĩa vụ thi hành án của cơ quan, tổ chức phát sinh do người thi hành công vụ gây ra và đã được giải quyết theo trình tự, thủ tục bồi thường nhà nước thì việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật được thực hiện theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của nhà nước”.
Như vậy, trong trường hợp người yêu cầu bồi thường hoặc cơ quan THADS có trách nhiệm bồi thường không thực hiện đúng và đầy đủ trình tự, thủ tục theo pháp luật bồi thường nhà nước trước khi bản án, quyết định của Tòa án về nghĩa vụ bồi thường thiệt hại của cơ quan THADS có hiệu lực thì lúc này, việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án được áp dụng trình tự, thủ tục bảo đảm tài chính để thực hiện (trước hết, cơ quan THADS đó phải yêu cầu người có lỗi thực hiện nghĩa vụ. Trường hợp người đó chưa có khả năng thực hiện nghĩa vụ hoặc có nhưng số tiền đã nộp chỉ đáp ứng một phần nghĩa vụ thi hành án, cơ quan THADS tiếp tục sử dụng khoản kinh phí tiết kiệm được từ nguồn kinh phí tự chủ theo quy định. Trong trường hợp vẫn chưa thi hành toàn bộ nghĩa vụ, cơ quan THADS lập hồ sơ bảo đảm tài chính gửi đến cơ quan cấp trên trực tiếp để xem xét, tổng hợp, gửi cơ quan có thẩm quyền thẩm định, cấp kinh phí bảo đảm thi hành án - Điều 2, điểm b khoản 1 Điều 8 Thông tư liên tịch số 07/2016/TTLT-BTP-BTC ngày 10/6/2016 của Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng hướng dẫn bảo đảm tài chính từ ngân sách nhà nước để thi hành án).

2. Điểm mới trong Luật TNBTCNN năm 2017 tác động đến cơ chế tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại

Điều 39 Luật TNBTCNN năm 2017 quy định các cơ quan sau là cơ quan giải quyết bồi thường trong hoạt động THADS:
- Cục Thi hành án dân sự và Chi cục Thi hành án dân sự.
- Cơ quan Thi hành án quân khu và tương đương.
- Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 52 quy định:
"Trong thời hạn 03 năm kể từ ngày nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường, người yêu cầu bồi thường có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu bồi thường trong các trường hợp sau đây:
a) Người yêu cầu bồi thường chưa yêu cầu cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại giải quyết yêu cầu bồi thường;
b) Người yêu cầu bồi thường rút yêu cầu bồi thường quy định tại điểm a khoản 1 Điều 51 của Luật này”.
Như vậy, so với Luật TNBTCNN năm 2009, Luật TNBTCNN năm 2017 đã sửa đổi toàn diện các quy định về thủ tục giải quyết bồi thường. Bên cạnh việc rút ngắn thời hạn giải quyết yêu cầu bồi thường, quy định chặt chẽ, cụ thể hơn về hồ sơ yêu cầu bồi thường, thụ lý hồ sơ, cử người giải quyết bồi thường,... Luật TNBTCNN năm 2017 đã bổ sung cơ chế giải quyết vụ án dân sự về yêu cầu bồi thường, giải quyết yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự và tố tụng hành chính tại Tòa án. Hay nói một cách khác, khi có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường, người yêu cầu bồi thường có quyền khởi kiện ngay ra Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường mà không bắt buộc phải nộp đơn yêu cầu bồi thường đến cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại.

3. Nhận xét và đề xuất, kiến nghị

Từ những quy định nêu trên, tác giả thấy rằng: kể từ thời điểm Luật TNBTCNN năm 2017 có hiệu lực (ngày 01/7/2018), phạm vi giải quyết bồi thường của Nhà nước theo đó sẽ "mở rộng” hơn, bao gồm cả những trường hợp người bị thiệt hại khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu giải quyết bồi thường trong một số trường hợp mà nếu theo quy định hiện hành sẽ giải quyết theo trình tự, thủ tục bảo đảm tài chính sau khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Bên cạnh đó, kể từ ngày 01/7/2018, một vụ việc dân sự về yêu cầu bồi thường giải quyết tại Tòa án sẽ được điều chỉnh đồng thời bởi Luật THADS Luật TNBTCNN. Theo quy định tại khoản 3 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015: "Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau”. Do đó, kể từ ngày 01/7/2018, nghĩa vụ bồi thường của cơ quan nhà nước theo bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp người bị thiệt hại khởi kiện ngay ra Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết (khoản 1 Điều 52 Luật TNBTCNN) được áp dụng Luật TNBTCNN năm 2017 và các văn bản hướng dẫn thi hành để thực hiện.
Vì vậy, từ ngày 01/7/2018 trở về sau, phạm vi áp dụng cơ chế bảo đảm tài chính đối với nghĩa vụ bồi thường của cơ quan nhà nước theo bản án, quyết định của Tòa án sẽ loại trừ thêm trường hợp quy định tại Điều 52 Luật TNBTCNN năm 2017 (người bị thiệt hại khởi kiện ngay ra Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường).
Từ những quy định, nhận xét đã nêu, tác giả thấy rằng cơ quan có thẩm quyền cần ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể các cơ quan nhà nước về vấn đề áp dụng quy định của pháp luật để thực hiện nghĩa vụ bồi thường của cơ quan nhà nước theo bản án, quyết định Tòa án trong thời gian tới, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức có liên quan.
------------------------
1. Bộ Tư pháp (2016), Thông tư liên tịch số 07/2016/TTLT-BTP-BTC ngày 10/6/2016 của Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính hướng dẫn bảo đảm tài chính từ ngân sách nhà nước để thi hành án.
2. Quốc hội (2008), Luật thi hành án dân sự năm 2008.
3. Quốc hội (2009), Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009.
4. Quốc hội (2014), Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự.
5. Quốc hội (2017), Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017.
Nguồn: Trang thông tin điện tử Bộ Tư pháp

 
LIKE VÀ SHARE ĐỂ ỦNG HỘ TÁC GIẢ
LIKE VÀ SHARE ĐỂ ỦNG HỘ TÁC GIẢ
Bài viết liên quan
 
Tổng đài luật sư tư vấn pháp luật
Văn phòng phía Bắc (Hà Nội)
Số 6A, Ngõ 76 đường Trần Thái Tông, Q. Cầu Giấy, HN
Văn phòng phía Nam (HỒ CHÍ MINH)
Số 596/14 Trường Chinh, Phường 13, Q. Tân Bình TP. HCM
Dịch vụ trọng tâm của Luật Việt Phong
Dich vụ đăng ký tài khoản ngân hàng với Phòng đăng ký kinh doanh
Doanh nghiệp của bạn vừa mở một tài khoản ngân hàng mới để thực hiện các giao dịch tài chính? Bạn không biết làm thế nào để thực hiện thủ tục đăng ký tài khoản ngân hàng với Phòng đăng ký kinh doanh? Hoặc bạn cũng đã thử nộp hồ sơ đăng ký nhưng ...
Thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên
Hồ sơ cần chuẩn bị để thành lập công ty TNHH 2 thành viên
- Đơn đề nghị thành lập công ty TNHH 2 thành viên
- Dự thảo điều lệ công ty
- Danh sách thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty hợp danh, danh sách ...
Tư vấn pháp luật doanh nghiệp Luật Việt Phong tư vấn và cung cấp dịch vụ pháp lý về doanh nghiệp, các vấn đề liên quan đến thành lập, giải thể, phá sản,.. thay đổi hoạt động kinh doanh, cac dịch vụ pháp lý theo yêu cầu..
Luật sư tư vấn về doanh nghiệp tại Hà Nội
Có thể nói, mỗi doanh nghiệp khi ra đời đã tạo ra một trách nhiệm xã hội to lớn, đó là việc cùng chung tay đóng góp công sức và tài sản để tạo ra không chỉ việc làm cho chính họ, mà còn cho cả những người khác nữa. Không chỉ sống và làm việc vì ...
Luật sư tư vấn thay đổi đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp Trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh… doanh nghiệp của bạn có sự thay đổi về người đại diện theo pháp luật, chuyển nhượng vốn góp, cổ phần, thay đổi địa điểm kinh doanh, thay đổi tên công ty… Theo quy định của pháp luật hiện hành, khi doanh nghiệp có sự thay đổi về nội dung đăn
Dịch vụ xin Giấy phép kinh doanh lữ hành nội địa Dịch vụ xin Giấy phép kinh doanh lữ hành nội địa Hoạt động kinh doanh lữ hành nội địa là một ngành “hái ra tiền” tại Việt Nam. Do chất lượng cuộc sống ngày càng cao, nhu cầu du lịch của người dân ngày càng lớn nên số lượng nhà kinh doanh hướng đến con đường này ngày càng nhiều.
Dịch vụ xin giấy phép thành lập trung tâm tư vấn du học
Trong những năm gần đây du học không còn là giấc mơ xa vời với nhiều bạn trẻ Việt. Nhờ sự hỗ trợ tích cực của các trung tâm tư vấn du học, việc đi du học trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết. Hoạt động tư vấn du học là hoạt động do Giám đốc Sở Giáo d...
Dịch vụ xin giấy phép thành lập trung tâm ngoại ngữ
Với xu thế hội nhập phát triển sôi động như hiện nay, ngoại ngữ đã, đang và sẽ trở thành mục tiêu hàng đầu trong việc chuẩn bị hành trang bước vào thời đại mới. Để học ngoại ngữ có rất nhiều cách nhưng cách hiệu quả nhất là học tại trung tâm ngo...
 
CHÚNG TÔI HỖ TRỢ KHÁCH HÀNG 7 ngày trong tuần với hotline
HOTLINE HỖ TRỢ KHÁCH HÀNG
Với đội ngũ luật sư nhiều kinh nghiệm, không chỉ hướng dẫn xử lý các vấn đề về pháp luật, chúng tôi luôn đồng hành tư vấn và phát triển cùng các khách hàng đã tin tưởng sử dụng dịch vụ pháp lý của Công ty Luật Việt Phong
Bản quyền thuộc về Luật Việt Phong - Mọi sự sao chép phải được sự chấp thuận của Công ty Luật Việt Phong bằng văn bản. (© Copyright 2009 - 2018), ® All Reserved.
01900 6589
Gọi ngay: 19006589