Lượt xem: 1124

Bảo đảm quyền con người, quyền công dân của đương sự trong thủ tục yêu cầu và thụ lý việc dân sự

Bùi Thị Huyền - Tiến sỹ, Trường Đại học Luật Hà Nội
Cũng như các quốc gia khác, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người là vấn đề nhân quyền mà Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã có bước tiến dài trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Bảo đảm quyền con người, quyền công dân của đương sự không chỉ được thể hiện trong thủ tục giải quyết vụ án dân sự mà trong cả thủ tục giải quyết việc dân sự. Bảo đảm quyền con người, quyền công dân của đương sự trong việc dân sự đòi hỏi nhiều yếu tố, trong phạm vi bài viết này, tác giả đề cập đến vấn đề bảo đảm quyền con người, quyền công dân của đương sự trong thủ tục yêu cầu và thụ lý việc dân sự. Nội dung này được thể hiện ở các mặt: quyền yêu cầu và chủ thể thực hiện quyền yêu cầu giải quyết việc dân sự; thẩm quyền giải quyết yêu cầu; phạm vi yêu cầu giải quyết việc dân sự; hình thức đơn yêu cầu.
Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người là vấn đề nhân quyền mà bất cứ quốc gia nào cũng phải quan tâm. Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người được Đại Hội đồng Liên hợp quốc thông qua và công bố ngày 10/12/1948 đã tuyên bố rằng: "Điều cốt yếu là các quyền con người phải được bảo vệ bởi một chế độ pháp quyền...”[2]. Song, nếu pháp luật mới chỉ dừng lại ở việc quy định các quyền lợi của con người là chưa đủ mà còn cần có phương tiện để bảo vệ các quyền này. Trong lĩnh vực dân sự, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, các chủ thể có thể tự bảo vệ hoặc yêu cầu nhà nước bảo vệ. Việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể được nhà nước thực hiện thông qua hoạt động của cả bộ máy trong hệ thống, trong đó có hoạt động xét xử[3]. "Mọi người đều bình đẳng về quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một Tòa án độc lập và khách quan để xác định quyền và nghĩa vụ của họ cũng như về bất cứ sự buộc tội nào đối với họ”[4]. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 đã có bước tiến dài trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Bảo đảm quyền con người, quyền công dân của đương sự trong việc dân sự đòi hỏi nhiều yếu tố, song trong phạm vi bài viết này, tác giả đề cập đến vấn đề bảo đảm quyền con người, quyền công dân của đương sự trong thủ tục yêu cầu và thụ lý việc dân sự.

1. Quyền yêu cầu và chủ thể thực hiện quyền yêu cầu giải quyết việc dân sự

Bảo đảm về quyền con người, quyền công dân của đương sự trong thủ tục giải quyết việc dân sự trước hết là việc bảo đảm quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự và trách nhiệm của Tòa án trong việc xem xét, thụ lý yêu cầu dân sự. Điểm mới nổi bật của BLTTDS năm 2015 so với BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) là đã bổ sung thêm quy định về thủ tục nhận và xử lý đơn yêu cầu, trả lại đơn yêu cầu và thông báo thụ lý đơn yêu cầu. Trong trường hợp có khiếu nại về việc trả lại đơn yêu cầu được thực hiện tương tự như thủ tục khiếu nại đối với việc trả lại đơn khởi kiện theo Điều 194 BLTTDS năm 2015. Các quy định này góp phần bảo đảm tốt hơn quyền yêu cầu của đương sự và thuận lợi cho Tòa án trong việc xem xét, xử lý đơn yêu cầu của đương sự.
Để bảo đảm quyền con người, quyền công dân, pháp luật quy định cho người yêu cầu có quyền yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý làm căn cứ phát sinh quyền, nghĩa vụ về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Về nguyên tắc, cá nhân có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc dân sự phải là người có quyền, lợi ích liên quan đến việc Toà án giải quyết việc dân sự đó. Tùy theo năng lực hành vi tố tụng dân sự mà người yêu cầu có thể tự viết đơn yêu cầu hoặc thông qua người đại diện hợp pháp của mình[5]. Song, do đặc thù của việc dân sự là xác định một sự kiện pháp lý nên không phải trong mọi trường hợp khi người có quyền yêu cầu là người không có năng lực hành vi tố tụng dân sự thì người đại diện hợp pháp của họ đều có quyền yêu cầu. Bởi trong những trường hợp này pháp luật đã quy định cụ thể những người có quyền yêu cầu. Cụ thể:
- Vợ và chồng có quyền yêu cầu giải quyết yêu cầu thuận tình ly hôn;
- Vợ, chồng của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác; cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của người kết hôn trái pháp luật; Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; Hội Liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật (Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014);
- Cha mẹ nuôi, con nuôi đã thành niên, cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của con nuôi có quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi. Riêng đối với trường hợp yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi khi con nuôi bị kết án về một số tội danh[6] thì Cơ quan lao động, thương binh và xã hội và Hội Liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi (Điều 26 Luật Nuôi con nuôi năm 2010).
- Đối với yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu thì công chứng viên đã thực hiện việc công chứng, người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu khi có căn cứ cho rằng việc công chứng có vi phạm pháp luật theo quy định của pháp luật về công chứng.
- Đối với yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu thì người lao động, người sử dụng lao động, tổ chức đại diện tập thể lao động, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu khi có căn cứ theo quy định của Bộ luật lao động.
- Người có quyền yêu cầu giải quyết các yêu cầu liên quan đến hoạt động của Trọng tài thương mại Việt Nam cũng được Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định cụ thể.
- Đối với yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản chung để thi hành án và yêu cầu khác theo quy định của Luật thi hành án dân sự thì chủ sở hữu chung, Chấp hành viên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Quy định mới này của BLTTDS nhằm đảm bảo sự tương thích với Điều 74, 75 Luật Thi hành án dân sự năm 2014. Quy định này nhằm bảo vệ quyền được thi hành án của người được thi hành án. Pháp luật thi hành án dân sự đã dành cho người phải thi hành án khoảng thời gian 30 ngày để yêu cầu, chỉ khi đương sự không thực hiện việc yêu cầu thì Chấp hành viên mới yêu cầu.
- Một hoặc cả hai bên tham gia hòa giải ngoài Tòa án có quyền yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải ngoài Tòa án.
Như vậy, các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về cơ bản đã bảo đảm quyền yêu cầu của đương sự cũng như tạo thuận lợi cho Tòa án trong việc xem xét thụ lý việc dân sự, góp phần bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân của người yêu cầu. Bên cạnh đó, để bảo vệ quyền con người, quyền công dân của người có liên quan cũng như bảo đảm cho quyền yêu cầu của người yêu cầu là có cơ sở, đồng thời hoàn thiện hành lang pháp lý cho Tòa án có căn cứ giải quyết việc dân sự, pháp luật quy định việc thực hiện quyền yêu cầu phải tuân thủ các điều kiện do pháp luật quy định.

2. Thẩm quyền giải quyết yêu cầu

Bên cạnh điều kiện người yêu cầu phải có quyền yêu cầu như phân tích ở trên, yêu cầu giải quyết việc dân sự còn phải đáp ứng điều kiện về thẩm quyền giải quyết yêu cầu. Người yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự phải gửi đơn đến Tòa án có thẩm quyền quy định tại các điều 27, 29, 31 và 33 BLTTDS năm 2015. Để đáp ứng tốt hơn yêu cầu bảo vệ quyền con người, quyền công dân, BLTTDS năm 2015 quy định, ngoài những yêu cầu dân sự nêu trên, Tòa án còn có thẩm quyền giải quyết các yêu cầu dân sự khác, trừ trường hợp thuộc thuộc thẩm giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật. Đây là điểm mới quan trọng của BLTTDS năm 2015 nhằm bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân của đương sự. Trên nguyên tắc Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự kể cả vì lý do chưa có điều luật để áp dụng nên mặc dù pháp luật nội dung chưa quy định cụ thể thì Tòa án vẫn phải thụ lý giải quyết. Chẳng hạn, mặc dù Luật Hôn nhân và gia đình không quy định chế định ly thân nhưng nếu có yêu cầu công nhận tình trạng ly thân thì Tòa án vẫn phải thụ lý giải quyết vì đó là quyền dân sự của đương sự. Song, Tòa án sẽ giải quyết hậu quả của việc xác nhận tình trạng ly thân như thế nào khi mà Luật Hôn nhân và gia đình không quy định. Vì vậy, Tòa án nhân dân tối cao (TAND) cần có hướng dẫn cụ thể hoặc xây dựng án lệ về những trường hợp này.
Về nguyên tắc, hầu hết các loại việc về dân sự đều thuộc thẩm quyền sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện, trừ các loại việc thuộc thẩm quyền của TAND cấp tỉnh. Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền sơ thẩm đối với các loại việc được quy định tại Điều 37 BLTTDS năm 2015. Thẩm quyền theo lãnh thổ đối các việc dân sự được quy định tại khoản 2 Điều 39 và khoản 2 Điều 40 BLTTDS năm 2015. Các quy định về thẩm quyền theo cấp, lãnh thổ được xây dựng dựa trên nguyên tắc bảo đảm thuận lợi cho việc tham gia tố tụng của các đương sự cũng như Tòa án có điều kiện tốt nhất trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Việc xác định thẩm giải quyết việc dân sự trong nhiều trường hợp liên quan đến việc xác định người có quyền và nghĩa vụ liên quan.
Chẳng hạn: A yêu cầu Tòa án tuyên bố B là đã chết. B có 4 người con, trong đó có một người đang ở nước ngoài. Theo tác giả, mặc dù khoản 6 Điều 68 BLTTDS năm 2015 đã đưa ra định nghĩa về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự[7], song để xác định ai là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong từng việc dân sự cụ thể phụ thuộc vào yêu cầu giải quyết việc dân sự của đương sự. Trong trường hợp đương sự chỉ yêu cầu xác định ông B là đã chết mà không có yêu cầu quản lý tài sản của ông B thì Tòa án không nhất thiết đưa tất cả tất cả các con ông B vào tham gia tố tụng, trừ trường hợp tất cả các đương sự đều có đơn yêu cầu được tham gia tố tụng. Như vậy, nếu xác định tất cả những người con của B là người có quyền và nghĩa vụ liên quan đối với yêu cầu tuyên bố B là đã chết thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết sẽ là Tòa án cấp tỉnh. Vì vậy, Nghị quyết hướng dẫn thi hành BLTTDS năm 2015 cần quy định theo hướng: Việc xác định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự phụ thuộc vào yêu cầu giải quyết việc dân sự của đương sự và đơn đề nghị tham gia tố tụng của đương sự.

3. Về phạm vi yêu cầu giải quyết việc dân sự

Xuất phát từ quyền con người của đương sự và yêu cầu bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, chính xác, Tòa án có thể nhập hai hoặc nhiều vụ án mà Toà án đó đã thụ lý riêng biệt thành một vụ án để giải quyết nếu việc nhập và việc giải quyết trong cùng một vụ án bảo đảm đúng pháp luật (Điều 42 BLTTDS năm 2015). Tuy nhiên, đối với việc dân sự, Tòa án không quy định việc đương sự có thể yêu cầu nhiều yêu cầu để giải quyết trong một việc dân sự, cũng như nhập hai hay nhiều việc dân sự mà Tòa án đã thụ lý. Điều đó, làm ảnh hưởng đến quyền tự đoạt của đương sự, gây phiền phức cho đương sự trong quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ và lúng túng cho Tòa án trong việc bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự. Chẳng hạn, trên thực tế, trong các vụ tai nạn, hoặc mất tích do vượt biên bằng đường biển ra nước ngoài, một gia đình có nhiều người biệt tích…Nếu đương sự muốn yêu cầu Tòa án tuyên bố những người biệt tích là mất tích hoặc đã chết thì họ lại phải làm nhiều đơn yêu cầu khác nhau. Điều đó, gây khó khăn cho đương sự khi thực hiện quyền tự định đoạt cũng như bảo vệ quyền con người, quyền công dân của mình. Hoặc vụ việc do Tòa án nhân dân quận N, thành phố H thụ lý, giải quyết năm 2011: Anh A và chị B đăng ký kết hôn tháng 10 năm 2008, năm 2009 anh chị sinh con chung là cháu C. Do mâu thuẫn vợ chồng nên ngày 15/01/2012 chị B bế con bỏ đi biệt tích, đến nay không có tin tức gì. Năm 2014, do muốn kết hôn với chị D nên ngày 10/5/2014 anh A yêu cầu Tòa án tuyên bố chị B mất tích để làm thủ tục ly hôn với chị. Vấn đề đặt ra là Tòa án không giải quyết yêu cầu tuyên bố cháu C mất tích trong cùng việc tuyên bố chị B mất tích. Điều đó, gây khó khăn cho đương sự và cho chính Tòa án khi giải quyết vụ án ly hôn giữa A và B.
Do đó, theo chúng tôi, để bảo đảm yêu cầu của đương sự cũng như việc giải quyết hiệu quả việc dân sự, BLTTDS năm 2015 cần bổ sung quy định về việc giải quyết nhiều yêu cầu dân sự trong một việc dân sự cũng như nhập việc dân sự.

4. Hình thức đơn yêu cầu

Đơn yêu cầu phải có các nội dung chính theo Điều 362 BLTTDS năm 2015. Theo quy định tại Điều 165 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) thì khi khởi kiện vụ án dân sự, người khởi kiện phải gửi kèm theo đơn khởi kiện tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Xuất phát từ thực tiễn giải quyết vụ án dân sự cho thấy, với cơ chế quản lý hành chính và trình độ hiểu biết pháp luật của đương sự hiện nay thì quy định này là rào cản đối với quyền khởi kiện của đương sự. Do đó, khoản 5 Điều 189 BLTTDS năm 2015 đã sửa quy định này theo hướng, kèm theo đơn khởi kiện người có thể chỉ phải nộp tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm[8]. Tuy nhiên, khoản 5 Điều 362 BLTTDS năm 2015 quy định : "Kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu phải gửi tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp”. Như vậy, quy định này chưa thực sự bảo đảm quyền bình đẳng của đương sự trong việc dân sự và đương sự trong vụ án dân sự nên Nghị quyết hướng dẫn thi hành BLTTDS năm 2015 nên hướng dẫn khoản 5 Điều 362 BLTTDS năm 2015 như sau: "Kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu gửi cho Tòa án tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp”.
Trên đây là nghiên cứu của tác giả về thủ tục yêu cầu, thụ lý việc dân sự và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân của đương sự, rất mong nhận được ý kiến trao đổi của quý bạn đọc./.
--------------------------
[2] Giới thiệu các văn kiện Quốc tế về Quyền con người, Nxb Lao động –Xã hội, Hà Nội năm 2011, tr48. 
[3] Bùi Thị Huyền, Phiên tòa sơ thẩm – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 2013, tr 8. 
[4] Điều 10, Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người, 1948.
[5] Mặc dù, BLTTDS năm 2015 không quy định cụ thể, song trên nguyên tắc áp dụng pháp luật về giải quyết việc dân sự thì người yêu cầu là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp để yêu cầu Toà án có thẩm quyền giải quyết việc dân sự của mình theo Điều 189 BLTTDS năm 2015.
[6] Đối với trường hợp yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi khi con nuôi bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của cha mẹ nuôi; ngược đãi, hành hạ cha mẹ nuôi hoặc con nuôi có hành vi phá tán tài sản của cha mẹ nuôi; cha mẹ nuôi bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con nuôi; ngược đãi, hành hạ con nuôi; Việc nhận nuôi con nuôi vi phạm các trường hợp pháp luật cấm như: Lợi dụng việc nuôi con nuôi để trục lợi, bóc lột sức lao động, xâm hại tình dục; bắt cóc, mua bán trẻ em; Giả mạo giấy tờ để giải quyết việc nuôi con nuôi; Phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi; Lợi dụng việc cho con nuôi để vi phạm pháp luật về dân số; Lợi dụng việc làm con nuôi của thương binh, người có công với cách mạng, người thuộc dân tộc thiểu số để hưởng chế độ, chính sách ưu đãi của Nhà nước; Ông, bà nhận cháu làm con nuôi hoặc anh, chị, em nhận nhau làm con nuôi; Lợi dụng việc nuôi con nuôi để vi phạm pháp luật, phong tục tập quán, đạo đức, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc
[7] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự là người tuy không yêu cầu giải quyết việc dân sự nhưng việc giải quyết việc dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc đương sự trong việc dân sự đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trường hợp giải quyết việc dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nào đó mà không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án phải đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự.
[8] Kèm theo đơn khởi kiện phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Trường hợp vì lý do khách quan mà người khởi kiện không thể nộp đầy đủ tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện thì họ phải nộp tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Người khởi kiện bổ sung hoặc giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ khác theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án.
Nguồn: Tạp chí nghề luật số 2/2017

 
LIKE VÀ SHARE ĐỂ ỦNG HỘ TÁC GIẢ
LIKE VÀ SHARE ĐỂ ỦNG HỘ TÁC GIẢ
Bài viết liên quan
 
Tổng đài luật sư tư vấn pháp luật
Văn phòng phía Bắc (Hà Nội)
Số 6A, Ngõ 76 đường Trần Thái Tông, Q. Cầu Giấy, HN
Văn phòng phía Nam (HỒ CHÍ MINH)
Số 596/14 Trường Chinh, Phường 13, Q. Tân Bình TP. HCM
Dịch vụ trọng tâm của Luật Việt Phong
Dich vụ đăng ký tài khoản ngân hàng với Phòng đăng ký kinh doanh
Doanh nghiệp của bạn vừa mở một tài khoản ngân hàng mới để thực hiện các giao dịch tài chính? Bạn không biết làm thế nào để thực hiện thủ tục đăng ký tài khoản ngân hàng với Phòng đăng ký kinh doanh? Hoặc bạn cũng đã thử nộp hồ sơ đăng ký nhưng ...
Thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên
Hồ sơ cần chuẩn bị để thành lập công ty TNHH 2 thành viên
- Đơn đề nghị thành lập công ty TNHH 2 thành viên
- Dự thảo điều lệ công ty
- Danh sách thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty hợp danh, danh sách ...
Tư vấn pháp luật doanh nghiệp Luật Việt Phong tư vấn và cung cấp dịch vụ pháp lý về doanh nghiệp, các vấn đề liên quan đến thành lập, giải thể, phá sản,.. thay đổi hoạt động kinh doanh, cac dịch vụ pháp lý theo yêu cầu..
Luật sư tư vấn về doanh nghiệp tại Hà Nội
Có thể nói, mỗi doanh nghiệp khi ra đời đã tạo ra một trách nhiệm xã hội to lớn, đó là việc cùng chung tay đóng góp công sức và tài sản để tạo ra không chỉ việc làm cho chính họ, mà còn cho cả những người khác nữa. Không chỉ sống và làm việc vì ...
Luật sư tư vấn thay đổi đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp Trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh… doanh nghiệp của bạn có sự thay đổi về người đại diện theo pháp luật, chuyển nhượng vốn góp, cổ phần, thay đổi địa điểm kinh doanh, thay đổi tên công ty… Theo quy định của pháp luật hiện hành, khi doanh nghiệp có sự thay đổi về nội dung đăn
Dịch vụ xin Giấy phép kinh doanh lữ hành nội địa Dịch vụ xin Giấy phép kinh doanh lữ hành nội địa Hoạt động kinh doanh lữ hành nội địa là một ngành “hái ra tiền” tại Việt Nam. Do chất lượng cuộc sống ngày càng cao, nhu cầu du lịch của người dân ngày càng lớn nên số lượng nhà kinh doanh hướng đến con đường này ngày càng nhiều.
Dịch vụ xin giấy phép thành lập trung tâm tư vấn du học
Trong những năm gần đây du học không còn là giấc mơ xa vời với nhiều bạn trẻ Việt. Nhờ sự hỗ trợ tích cực của các trung tâm tư vấn du học, việc đi du học trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết. Hoạt động tư vấn du học là hoạt động do Giám đốc Sở Giáo d...
Dịch vụ xin giấy phép thành lập trung tâm ngoại ngữ
Với xu thế hội nhập phát triển sôi động như hiện nay, ngoại ngữ đã, đang và sẽ trở thành mục tiêu hàng đầu trong việc chuẩn bị hành trang bước vào thời đại mới. Để học ngoại ngữ có rất nhiều cách nhưng cách hiệu quả nhất là học tại trung tâm ngo...
 
CHÚNG TÔI HỖ TRỢ KHÁCH HÀNG 7 ngày trong tuần với hotline
HOTLINE HỖ TRỢ KHÁCH HÀNG
Với đội ngũ luật sư nhiều kinh nghiệm, không chỉ hướng dẫn xử lý các vấn đề về pháp luật, chúng tôi luôn đồng hành tư vấn và phát triển cùng các khách hàng đã tin tưởng sử dụng dịch vụ pháp lý của Công ty Luật Việt Phong
Bản quyền thuộc về Luật Việt Phong - Mọi sự sao chép phải được sự chấp thuận của Công ty Luật Việt Phong bằng văn bản. (© Copyright 2009 - 2018), ® All Reserved.
01900 6589
Gọi ngay: 19006589