Lượt xem: 1043
Lượt xem: 1043

Cán bộ xã tiếp tay để lừa đảo chiếm đoạt đất thì xử lý như thế nào?

Tóm tắt tình huống:

Tôi là Nguyễn Thị X, sinh năm: 1947 ở Hà Nội
Tôi xin trình báo sự việc như sau:
Ngày 04/4/2017 tôi và anh Nguyễn Đình Y cùng xóm có thỏa thuận chuyển nhượng 35m2 đất từ GCN QSD đất của tôi cụ thể là GCN QSD đất BK 781660, thửa đất số 26, tờ bản đồ số 19, diện tích 74,2m2 mang tên Nguyễn Thị X (có bản thỏa thuận kèm theo). Sau đó tôi cùng anh Y lên xã công chứng, chứng thực hợp đồng chuyển nhượng. Do bệnh tật và già yếu lại độc thân và không hiểu biết pháp luật, đồng thời sau khi chứng thực xong UBND xã lại không giao trả tôi (bên chuyển quyền sử dụng đất 01 bản chính) nên tôi đã không biết những nội dung ghi trong hợp đồng, mà bản thân vẫn nghĩ hợp đồng chuyển nhượng trên xã làm đúng so với thỏa thuận giữa tôi và anh Y. Vì không muốn cho gia đình em trai tôi là ông Nguyễn Tài Z biết nên mọi thủ tục giấy tờ tôi giao hết cho anh Y đi làm. Đầu tháng 7 anh Y có giao lại cho tôi một cuốn sổ đỏ thì trong sổ ghi số diện tích còn lại của tôi là 35,4m2 và của anh Y là 38,8m2. Sự việc này tôi đã báo cáo lên UBND xã. Ngày 21/7 gia đình anh Y đã đến nhà tôi dỡ tường để tiến hành thi công. Gia đình tôi đã trực tiếp báo cáo lên UBND xã. Sau khi giải quyết UBND xã có hẹn đến ngày 22/7/2017 sẽ lên trụ sở UBND xã để giải quyết.
Ngày 22/7/2017 tôi cùng cháu Nguyễn Tài A (con của em trai tôi là Nguyễn Tài Z) và anh Nguyễn Đình Y lên xã làm việc với ông Chủ tịch UBND xã và ông Nguyễn Văn B (Tư pháp hộ tịch). Tại buổi làm, chủ tịch UBND xã đã chỉ đạo hướng giải quyết, cung cấp cho tôi một bản sao hợp đồng (công chứng) chuyển quyền sử dụng đất mà trước đó đáng ra UBND xã phải giao lại cho tôi một bản chính sau khi ký kết hợp đồng chuyển nhượng từ ngày 04/04/2017. Trong bản sao hợp đồng lại ghi phần diện tích chuyển nhượng là 37,1m2. UBND xã thống nhất và kết luận anh Nguyễn Đình Y phải làm thủ tục chuyển nhượng lại trả cho tôi 3,8m2, sau khi chuyển nhượng xong thì mới bàn giao đất.
Tuy nhiên cuối buổi làm việc ngày 22/7/2017 ông Chủ tịch xã bận việc nên không ở lại ký biên bản làm việc và biên bản làm việc ngày hôm đó không giao lại cho tôi và anh Y.
Sáng 30/7/2017 (chủ nhật) gia đình anh Y đã tự ra khuân đồ đạc của gia đình nhà tôi để trong quán và vứt ra đường, tháo dỡ cả bàn thờ nhà tôi để tự xây dựng khi vẫn còn tranh chấp. Tôi đã ra nói chuyện nói với gia đình anh Y chờ xã giải quyết xong thì hãy tiến hành xây nhưng anh không nghe. Lập tức tôi lên xã trình báo sự việc cùng cháu Nguyễn Tài A thì gặp đồng chí C - Phó công an xã, sau đó đồng chí C cho người xuống làm việc và lập biên bản thì nhà anh Y vẫn tiếp tục tháo dỡ và tiếp tục xây dựng trên mảnh đất. 
Tôi đã làm đơn đề nghị UBND xã kiên quyết xử lý dứt điểm sự việc tranh chấp giữa tôi và anh Y.
Ngày 18/8/2017 tôi được mời lên UBND xã mời lên làm việc với giám đốc văn phòng đăng kí đất đai huyện và ông phó chủ tich xã cùng các cán bộ liên quan. Trong buổi làm việc ông giám đốc phát biểu trong hội nghị là căn cứ vào hợp đồng mua bán giữa tôi và anh Y năm 2013 để làm thủ tục tách thửa cho tôi. Bản thân tôi ngày 04/4/2017 mới làm hợp đồng chuyển nhượng với anh Y nên tôi không hiểu các ông đang có chiêu trò gì. Tôi đề nghị cung cấp cho tôi hợp đồng để xem ai đã làm và làm vào ngày nào thì ông giám đốc nói không có trách nhiệm phải cung cấp cho tôi mà xã phải có trách nhiệm cung cấp. Tôi hỏi phòng tư pháp UBND xã thì được trả lời là không hề có hợp đồng năm 2013 giữa tôi và anh Y. 
Tổng hợp lại những giấy tờ mua bán giữa tôi và anh Y có nhiều điều bí ẩn, có dấu hiệu làm giả giấy tờ, giả hợp đồng giúp anh Hồng chiếm đoạt tài sản của tôi. 
Nay trước sự giải quyết không thỏa đáng của cấp xã cũng như cấp huyện nên tôi đang chuẩn bị để khởi kiện ra tòa nhưng tôi chưa biết bắt đầu từ đâu. Tôi xin nhờ sự tư vấn của CÔNG TY LUẬT VIỆT PHONG tư vấn giúp tôi xem với nội dung tôi đã trình bày như trên thì tôi tôi nên khởi kiện như thế nào? 
Người gửi: Nguyễn Thị X
Liên hệ luật sư và đăng ký sử dụng dịch vụ gọi 1900 6589

Luật sư tư vấn

Xin chào bác! Cám ơn bác đã gửi câu hỏi của mình tới Luật Việt Phong. Về câu hỏi của bác, công ty Luật Việt Phong xin tư vấn và hướng dẫn bác như sau:

1. Căn cứ pháp lý

- Luật Đất đai 2013;
- Nghị định 43/2014/ NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều, khoản của Luật Đất đai số 45/2013/QH13;
- Nghị định 102/2014/ NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai;
- Bộ Luật Hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009);
- Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

2. Cán bộ xã tiếp tay để lừa đảo chiếm đoạt đất thì xử lý như thế nào?

* Về hành vi của cán bộ xã
Theo Khoản 1 Điều 207 Luật Đất đai 2013 quy định xử lý đối với người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai khi thi hành công vụ trong lĩnh vực đất đai như sau:
"1. Người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai khi thi hành công vụ thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật đối với các hành vi vi phạm sau đây:
a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái với quy định của pháp luật trong giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai, quản lý hồ sơ địa chính, ra quyết định hành chính trong quản lý đất đai;
b) Thiếu trách nhiệm trong quản lý để xảy ra vi phạm pháp luật về đất đai hoặc có hành vi khác gây thiệt hại đến tài nguyên đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất;
c) Vi phạm quy định về lấy ý kiến, công bố, công khai thông tin; vi phạm quy định trình tự, thủ tục hành chính; vi phạm quy định về báo cáo trong quản lý đất đai.”
Trong vụ việc của bác, nhận thấy có nhiều hành vi thiếu trách nhiệm và sai phạm của cán bộ xã, cụ thể như sau:
Thứ nhất, sau khi công chứng, chứng thực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bác và anh Y vào ngày 04/04/2017 thì không giao trả lại bản chính hợp đồng chuyển nhượng cho bác.
Thứ hai, vào ngày 22/07/2017, sau khi làm việc với chủ tịch UBND xã và tư pháp hộ tịch thì bác lại chỉ được cung cấp cho một bản sao hợp đồng (công chứng) chuyển quyền sử dụng và nội dung bản sao lại không đúng như thỏa thuận.
Thêm vào đó, cuối buổi làm việc ngày 22/7/2017 ông Chủ tịch xã bận việc nên không ở lại ký biên bản làm việc và biên bản làm việc ngày hôm đó không giao lại cho bác và anh Y.
Thứ ba, vào ngày 18/08/2017, trong buổi làm việc ông giám đốc văn phòng đăng kí đất đai huyện phát biểu trong hội nghị là căn cứ vào hợp đồng mua bán giữa bác và anh Y năm 2013 để làm thủ tục tách thửa nhưng theo số liệu phòng tư pháp UBND xã thì được trả lời là không hề có hợp đồng năm 2013 giữa bác và anh Y.
Các cán bộ ở xã nơi bác cư trú đã có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái với quy định của pháp luật trong chuyển quyền sử dụng đất, quản lý hồ sơ địa chính, ra quyết định hành chính trong quản lý đất đai; vi phạm quy định về thực hiện trình tự, thủ tục hành chính trong quản lý và sử dụng đất (Giải quyết thủ tục hành chính không đúng trình tự quy định, làm sai lệc nội dung hồ sơ). Hành vi của các cán bộ xã sẽ bị xử lý theo Điều 98 Nghị định 43/2014/NĐ-CP:
"Các quy định về nguyên tắc xử lý kỷ luật, thời hiệu, thời hạn xử lý kỷ luật, áp dụng hình thức kỷ luật, thẩm quyền xử lý kỷ luật, trình tự, thủ tục xem xét xử lý kỷ luật, các quy định khác liên quan đến xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức được thực hiện theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức.”
Ngoài ra, nếu trường hợp này lợi dụng việc bác không hiểu biết pháp luật và già yếu nên anh Y đã thỏa thuận với cán bộ xã khai khống hồ sơ nhằm chiếm đoạt mảnh đất của bác. Với hành vi gian dối làm giả giấy tờ, hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất, thì nếu anh Y và cán bộ xã có dấu hiệu của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bằng cách dùng chữ ký của bác, làm giả giấy tờ khác nhằm chiếm đoạt mảnh đất này theo quy định tại Khoản 1 Điều 139 Bộ Luật hình sự 2009 sửa đổi, bổ sung quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:
"1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đông đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến ba năm….”
Để đảm bảo quyền lợi của mình, bác cần làm đơn tố cáo đến cơ quan công nơi gần nhất, cung cấp các tài liệu cần thiết để phục vụ cho quá trình điều tra của cơ quan công an.
*Về hành vi của anh Y:
Với hành vi gian dối lợi dụng bác là người già yếu, không hiểu biết pháp luật, được bác tin tưởng giao cho làm mọi thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Anh Y đã có hành vi gian dối trong việc khai hồ sơ chuyển nhượng nhằm chiếm thêm 3,8 m2 đất của bác. Với hành vi này bác có kiện Anh Y ra tòa về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 Bộ Luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009). Khi đó, trường hợp này, bác cần trình báo trực tiếp với cơ quan điều tra hoặc gửi đơn đến Tòa và yêu cầu giải quyết đòi lại mảnh đất của bạn. Khởi kiện ra Tòa án nhân dân nơi có đất đang tranh chấp (Điều 203 Luật đất đai năm 2013).
"1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;”
Theo Điều 35 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015 thì tòa án nhân dân huyện sẽ có thẩm quyển giải quyết các tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai, cụ thể ở đây bác sẽ nộp đơn khởi kiện lên Tòa án huyện nơi cư trú để giải quyết.
Hơn nữa, với hành vi tự ý ra khuân đồ đạc của gia đình nhà bác và vứt ra đường, tháo dỡ cả bàn thờ nhà bác để xây dựng trên mảnh đất đang có tranh chấp thì anh Y có thể bị xử phạt theo Điều 10 Nghị định 102/2014/NĐ-CP về hành vi lấn, chiếm đất:
"3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi lấn, chiếm đất ở.
5. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm đối với hành vi quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều này;
b) Buộc trả lại đất đã lấn, chiếm đối với hành vi quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều này.”
Trên đây là tư vấn của công ty Luật Việt Phong về Có thể kiện người có hành vi xúc phạm, phá hoại tài sản, doạ đốt nhà không? Chúng tôi hi vọng rằng quý khách có thể vận dụng các kiến thức kể trên để sử dụng trong công việc và cuộc sống. Nếu có vấn đề pháp lý nào khác cần tư vấn quý khách vui lòng gọi điện tới tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 24/7 của công ty Luật Việt Phong để gặp luật sư tư vấn và chuyên viên pháp lý.
Chuyên viên: Nguyễn Hương Diền
 
LIKE VÀ SHARE ĐỂ ỦNG HỘ TÁC GIẢ
LIKE VÀ SHARE ĐỂ ỦNG HỘ TÁC GIẢ
Bài viết liên quan
 
 
Tổng đài luật sư tư vấn pháp luật
Văn phòng phía Bắc (Hà Nội)
Phòng 103A, Số 104 Thái Thịnh, P. Trung Liệt, Q. Đống Đa, Hà Nội
Văn phòng phía Nam (HỒ CHÍ MINH)
Số 596/14 Trường Chinh, Phường 13, Q. Tân Bình TP. HCM
Hỗ trợ tư vấn pháp luật trực tuyến
Nhánh 1
Nhánh 1
Tư vấn doanh nghiệp, giấy phép, thuế - kế toán
Nhánh 2
Nhánh 2
Tư vấn sở hữu trí tuệ, dân sự, hình sự
Nhánh 3
Nhánh 3
Tư vấn hôn nhân và gia đình, hành chính, thương mại
Nhánh 4
Nhánh 4
Tư vấn lao động, bảo hiểm, đất đai
Nhánh 5
Nhánh 5
Tư vấn pháp luật các lĩnh vực khác
Dịch vụ nổi bật tại Luật Việt Phong
Bản đồ đường tới Luật Việt Phong
Kết nối với chúng tôi trên Facebook
Kết nối với chúng tôi trên Youtube
 
CHÚNG TÔI HỖ TRỢ KHÁCH HÀNG 7 ngày trong tuần với hotline
HOTLINE HỖ TRỢ KHÁCH HÀNG
Với đội ngũ luật sư nhiều kinh nghiệm, không chỉ hướng dẫn xử lý các vấn đề về pháp luật, chúng tôi luôn đồng hành tư vấn và phát triển cùng các khách hàng đã tin tưởng sử dụng dịch vụ pháp lý của Công ty Luật Việt Phong
Bản quyền thuộc về Luật Việt Phong - Mọi sự sao chép phải được sự chấp thuận của Công ty Luật Việt Phong bằng văn bản. (© Copyright 2009 - 2017), ® All Reserved.
01900 6589