Lượt xem: 1057
Lượt xem: 1057

Ly hôn và các vấn đề tranh chấp liên quan

Tóm tắt tình huống

Chào quý công ty!
Em có đọc nhiều bài giải đáp thắc mắc pháp luật của quý công ty, em rất là tâm đắc với bài giải đáp rõ ràng, chi tiết của quý công ty và em tin tưởng bài giải đáp bổ ích của Quý công ty. Nay em cũng có một trường hợp từ người anh họ của em vướng mắc về vấn đề ly hôn, tranh chấp tài sản sau ly hôn và cho em xin trình bày sự việc dưới đây có thể kiện tội "Lừa đảo hôn nhân chiếm đoạt tài sản chung của vợ chồng thành tài sản riêng của cá nhân” hay không?. Em xin trình bày vài dòng sau đây..
Sự việc là anh họ em đã kết hôn vào tháng 2/2016. Sau đó, chị dâu chỉ ở nhà bác em được vài ngày. Sau đó, vì tính chất công việc hai bác em mới chấp nhận cho vợ chồng anh chị ở nhà chị dâu. Hai vợ chồng sống chung một thời gian khoảng 9 tháng (đã có giấy đăng ký kết hôn hợp pháp) và có tin chị họ có thai khoảng 15 tuần. Sau đó, anh họ em mới phát hiện ra là số tài sản gồm tiền mặt và vàng trang sức đã bị bố và mẹ vợ bên chị họ giữ nhưng khi anh họ đề cập về số tài sản này thì bố mẹ vợ bên chị họ cố tình che giấu không giao tài sản ra cho anh họ em. Sau đó, bố vợ tức giận về việc anh họ em đã hỏi số tài sản đó nên đã đuổi anh họ em ra đi. Sau đó, bố mẹ vợ gọi điện thoại mời hai bác em gặp mặt nói chuyện. Hai bác em đã cố gắng hòa giải cho hai vợ chồng anh họ nhưng bên nhà đó không cho chị dâu về nhà của hai bác em và nói là " Chuyện của hai đứa lớn rồi thì tự giải quyết”. Vài ngày sau, hai bác em có gọi điện thoại cho chị dâu nhưng chị ý không muốn về nhà của hai bác em nữa. Và sau đó, họ không nói bất cứ chuyện gì với gia đình bác em nữa, kể cả số tài trên.
Tính đến bây giờ, con của anh họ đã chào đời được 16 tuần. Trong khoảng thời gian, hai vợ chồng anh chị họ không giữ liên lạc với nhau nữa. Nhưng vì quá thất vọng về cách cư xử của gia đình chị dâu nên gia đình hai bác và anh họ em quyết định sẽ li hôn trong thời gian tới theo đúng quy pháp luật.
Câu hỏi:
1. Liệu anh họ và chị họ không liên lạc trong thời gian trên thì liệu pháp luật có công nhận đó thời gian ly thân đúng luật hay không?
2. Về phương diện con cái:
Trường hợp 1: Con cái được sinh ra nếu gia đình chị họ muốn giữ nuôi đứa bé và gia đình anh họ vẫn chấp nhận mà không cấp dưỡng (vì anh họ có hai người phụ thuộc là hai bác em) thì như vậy có hợp pháp không? Nếu không hợp pháp thì hai bên gia đình có trách nhiệm như thế nào về đứa bé này.?
Trường hợp 2: Nếu bên gia đình chị họ không muốn nuôi đứa bé và bên gia đình anh họ chấp nhận nuôi dưỡng (Nhưng gia đình anh họ không muốn đứa bé liên hệ với gia đình chị họ nữa bằng việc bắt buộc gia đình chị phải cam kết sau này không có bất liên hệ, quan hệ gì với đứa bé nảy nữa) thì có hợp pháp không?
3. Sau những tình tiết em đã trình bày về sự việc trên: Thì gia đình chị họ có vi phạm tội "Lừa đảo hôn nhân chiếm đoạt tài sản chung của vợ chồng thì tài sản cá nhân” hay không? Nếu có vi phạm hoặc không vi phạm thì giải quyết tranh chấp tài sản sau hôn nhân như thế nào?
Chúng tôi rất chân thành cám ơn sự giải đáp của quý công ty càng sớm càng tốt.
Chúc quý công ty luôn thành công và phát triển.
Trân trọng!
Người gửi: Quỳnh Trâm
Liên hệ luật sư và đăng ký sử dụng dịch vụ gọi 1900 6589

Luật sư tư vấn

Xin chào bạn! Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình tới Luật Việt Phong. Về câu hỏi của bạn, công ty Luật Việt Phong xin tư vấn và hướng dẫn bạn như sau:

1. Căn cứ pháp lý

- Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
- Bộ luật Hình sự năm 1999 và Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009;
- Nghị định số 167/2013/NĐ – CP Quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng chông bạo lực gia đình. 

2. Ly hôn và các vấn đề tranh chấp liên quan

Theo bạn cung cấp thông tin thì hiện tại hai bên gia đình và vợ chồng anh chị họ của bạn không liên lạc với nhau. Con của anh chị bạn đã sinh được 16 tuần nhưng vì quá thất vọng về cách cư xử của gia đình chị dâu về vấn đề tài sản nên gia đình hai bác và anh họ của bạn quyết định sẽ li hôn trong thời gian tới theo đúng quy pháp luật. Các vấn đề thắc mắc mắc của bạn, chúng tôi tư vấn như sau:
Trước hết, anh bạn muốn ly hôn, vậy trong trường hợp này có được ly hôn không?
Điều 51 – Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn như sau:
"1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.
3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi”.
Như vậy, trong trường hợp này, hai bên không qua lại và liên lạc với nhau. Theo bạn cung cấp thông tin thì anh bạn muốn ly hôn, tức ly hôn theo yêu cầu 1 bên. Tuy nhiên, theo khoản 3 – Điều 51 – Luật Hôn nhân gia đình thì anh họ của bạn không thể yêu càu ly hôn với chị dâu bạn trong thời gian con của anh chị dưới 12 tháng tuổi mà hiện tại con mới được 16 tuần tuổi trừ trường hợp chị dâu của bạn cũng phải đồng ý việc ly hôn này. Vì vậy, anh họ của bạn không thể yêu cầu xin ly hôn nếu không được sự chấp thuận, đồng ý của chị dâu bạn. 
Trường hợp nếu chị dâu của bạn chấp thuận yêu cầu ly hôn của anh bạn thì những câu hỏi của bạn, chúng tôi giải đáp như sau:
Liệu anh họ và chị họ không liên lạc trong thời gian trên thì liệu pháp luật có công nhận đó thời gian ly thân đúng luật hay không? 
 Ly thân có thể được hiểu hiểu đơn giản là sự sống riêng giữa vợ và chồng, như là không ăn chung, ở chung, không sinh hoạt vợ chồng. Mục đích của ly thân, theo quy định của luật pháp các nước là để giảm thiểu những căng thẳng, xung đột gay gắt giữa vợ và chồng hoặc tránh những chuyện đáng tiếc có thể xảy ra. Ly thân không làm chấm dứt mối quan hệ pháp lý giữa vợ và chồng nên trong thời gian sống ly thân, các bên vẫn có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ đối với con chung và tài sản. Hiện nay, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 và các văn bản hướng dẫn vẫn chưa có quy định nào về vấn đề ly thân. Vì luật không quy định nên không có một định nghĩa chính xác về ly thân, cũng không có cơ quan, tổ chức nào đứng ra giải quyết cho ly thân theo hướng ra quyết định hoặc bản án công nhận cho ly thân. Trong quy định về căn cứ cho ly hôn cũng không có quy định là vợ chồng phải sống ly thân một thời gian rồi mới được ly hôn.
Vấn đề của vợ chồng anh họ của bạn, họ cũng không tuyên bố là ly thân. Pháp luật cũng không quy định về chế định ly thân này. Ly thân do hai vợ chồng tự có những hành vi sống riêng ra, không liên quan đến những sinh hoạt hàng ngày. Ly thân không làm chấm dứt nghĩa vụ vợ chồng nên trong thời gian này, vợ chồng đều phải có nghĩa vụ đối với con chung và tài sản chung. Vì vậy, trong trường hợp của anh bạn, có thể coi là ly thân, đây là vẫn đề pháp luật chua có quy định nên không thể nói là ly thân đúng luật hay không.
Về phương diện con cái:
Trường hợp 1: Con cái được sinh ra nếu gia đình chị dâu muốn giữ nuôi đứa bé và gia đình anh họ bạn vẫn chấp nhận mà không cấp dưỡng (vì anh họ có hai người phụ thuộc là hai bác em) thì như vậy có hợp pháp không? Nếu không hợp pháp thì hai bên gia đình có trách nhiệm như thế nào về đứa bé này?
Điều 81 – Luật Hôn nhân gia đình quy định về việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con sau ly hôn như sau:
"1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”.
Con của vợ chồng anh họ bạn  được 16 tuần tuổi, theo quy định của pháp luật thì chị dâu của bạn có quyền nuôi đứa bé, trừ trường hợp chị dâu của bạn không có đủ điều kiện về vật chất, tinh thần,… để trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Trường hợp chị dâu của bạn nuôi đứa bé thì anh bạn không cấp dưỡng có được không? Khoản 2 – Điều 82 – Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định  nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn như sau: "Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Như vậy, anh họ của bạn, không trực tiếp nuôi con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, mức cấp dưỡng sẽ do hai bên thỏa thuận. Vấn đề do anh họ của bạn cũng phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho bố mẹ (người phụ thuộc), tuy nhiên pháp luật vẫn quy định trong trường hợp này anh họ của bạn phải cấp dưỡng cho con. Điều 108 – Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định về một người cấp dưỡng cho nhiều người như sau: "Trong trường hợp một người có nghĩa vụ cấp dưỡng cho nhiều người thì người cấp dưỡng và những người được cấp dưỡng thỏa thuận với nhau về phương thức và mức cấp dưỡng phù hợp với thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của những người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết”. Như vậy, anh bạn cấp dưỡng cho hai bác của bạn, con sau khi ly hôn phải có sự thỏa thuận với nhau về mức cấp dưỡng cho phù hợp với thu nhập và điều kiện của anh họ bạn và nhu cầu của từng người được cấp dưỡng; trường họp nếu không thể thỏa thuận được thì do Tòa an giải quyết.
Trường hợp 2: Nếu bên gia đình chị dâu của bạn không muốn nuôi đứa bé và bên gia đình anh họ chấp nhận nuôi dưỡng (Nhưng gia đình anh họ không muốn đứa bé liên hệ với gia đình chị họ nữa bằng việc bắt buộc gia đình chị phải cam kết sau này không có bất liên hệ, quan hệ gì với đứa bé nảy nữa) thì có hợp pháp không?
Cũng theo quy định tại khoản 3 – Điều 81 – Luật Hôn nhân gia đình: "Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”. Theo đó, hai bên cũng có thể thỏa thuận người trực tiếp nuôi con dưới 36 tháng tuổi để phù hợp với lợi ích của con. Trường hợp nếu anh họ của bạn là người trực tiếp nuôi con, nhưng lại không muốn đứa bé liên hệ với gia đình chị họ nữa bằng việc bắt buộc gia đình chị phải cam kết sau này không có bất liên hệ, quan hệ gì với đứa bé này nữa thì có hợp pháp không? Điều 83 – Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định về nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn như sau:
"1. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.
2. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con”.
Khoản 3 – Điều 82 – Luật Hôn nhân gia đình quy định: "Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở”.
Như vậy, anh họ của bạn không được bắt buộc gia đình chị dâu bạn phải cam kết sau này không có bất liên hệ, quan hệ gì với đứa bé. Chị dâu và gia đình bên chị dâu của bạn có quyền thăm nom đứa bé mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con là anh họ cũng không có quyền cản trở quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị dâu bạn. Do đó, việc bắt buộc gia đình chị dâu phải cam kết sau này không có bất liên hệ, quan hệ gì với đứa bé này nữa là không hợp pháp, trái quy định của pháp luật. 
Sau những tình tiết bạn đã trình bày về sự việc trên: Thì gia đình chị dâu có vi phạm tội "Lừa đảo hôn nhân chiếm đoạt tài sản chung của vợ chồng thành tài sản cá nhân” hay không? Nếu có vi phạm hoặc không vi phạm thì giải quyết tranh chấp tài sản sau hôn nhân như thế nào?
Khoản 1 – Điều 8 – Bộ luật Hình sự quy định về tội phạm như sau: "Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”. Theo đó, tội phạm là những hành vi nguy hiểm cho xã hội và được quy định trong Bộ luật Hình sự. Đối với hành vi sử dụng tài sản của vợ chồng anh họ bạn của bên gia đình nhà chị dâu khi anh bạn sống bên nhà chị dâu thì có thể chưa đến mức độ gây nguy hiểm cho xã hội và bị phạm tội theo quy định của Bộ luật Hình sự. Đồng thời, chương XV – Bộ luật Hình sự cũng không có điều khoản về tội nào là tội "Lừa đảo hôn nhân chiếm đoạt tài sản chung của vợ chồng thành tài sản cá nhân” như bạn nói. Theo các điều khoản về tội chiếm đoạt tài sản của Bộ luật Hình sự thì hành vi này này cũng chưa thể là hành vi phạm tội hình sự. Tại Điều 56 – Nghị định 167/2013/NĐ – CP quy định hành vi bạo lực về kinh tế như sau: 
"1. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi không cho thành viên gia đình sử dụng tài sản chung vào mục đích chính đáng.
2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Chiếm đoạt tài sản riêng của thành viên gia đình;
b) Ép buộc thành viên gia đình lao động quá sức hoặc làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại hoặc làm những công việc khác trái với quy định của pháp luật về lao động;
c) Ép buộc thành viên gia đình đi ăn xin hoặc lang thang kiếm sống”.
Như vậy, hành vi của bố mẹ chị dâu giữ tiền mặt và vàng trang sức của vợ chồng anh họ bạn có thể bị xử phạt Hành chính về hành vi vi phạm chiếm đoạt tài sản riêng của anh chị bạn. 
Việc tranh chấp tài sản sau hôn nhân của vợ chồng anh họ bạn sẽ giải quyết như thế nào?
Nếu ly hôn, thì tài sản của vợ chồng anh họ bạn đang được gia đình bên chị dâu giữ thì số tài sản đó phải được đưa ra Tòa án giải quyết. Nếu bên gia đình chị dâu vẫn giữ số tiền vàng đó thì anh họ của bạn có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết cùng với việc ly hôn này. Việc giải quyết tài sản khi ly hôn trước tiên sẽ do hai bên thỏa thuận, nếu hai bên không thể thỏa thuận được thì do Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. 
Điều 59 – Luật Hôn nhân gia đình quy định về nguyên tắc giải quyết tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn như sau:
"1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.
Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.
2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.
Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này”.
Trên đây là tư vấn của công ty Luật Việt Phong về Ly hôn và các vấn đề tranh chấp liên quan.  Chúng tôi hi vọng rằng quý khách có thể vận dụng các kiến thức kể trên để sử dụng trong công việc và cuộc sống. Nếu có vấn đề pháp lý nào khác cần tư vấn quý khách vui lòng gọi điện tới tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 24/7 của công ty Luật Việt Phong để gặp luật sư tư vấn và chuyên viên pháp lý.
Chuyên viên: Hoàng Thị Nụ
 
LIKE VÀ SHARE ĐỂ ỦNG HỘ TÁC GIẢ
LIKE VÀ SHARE ĐỂ ỦNG HỘ TÁC GIẢ
Bài viết liên quan
 
 
Tổng đài luật sư tư vấn pháp luật
Văn phòng phía Bắc (Hà Nội)
Phòng 103A, Số 104 Thái Thịnh, P. Trung Liệt, Q. Đống Đa, Hà Nội
Văn phòng phía Nam (HỒ CHÍ MINH)
Số 596/14 Trường Chinh, Phường 13, Q. Tân Bình TP. HCM
Hỗ trợ tư vấn pháp luật trực tuyến
Nhánh 1
Nhánh 1
Tư vấn doanh nghiệp, giấy phép, thuế - kế toán
Nhánh 2
Nhánh 2
Tư vấn sở hữu trí tuệ, dân sự, hình sự
Nhánh 3
Nhánh 3
Tư vấn hôn nhân và gia đình, hành chính, thương mại
Nhánh 4
Nhánh 4
Tư vấn lao động, bảo hiểm, đất đai
Nhánh 5
Nhánh 5
Tư vấn pháp luật các lĩnh vực khác
Dịch vụ nổi bật tại Luật Việt Phong
Bản đồ đường tới Luật Việt Phong
Kết nối với chúng tôi trên Facebook
Kết nối với chúng tôi trên Youtube
 
CHÚNG TÔI HỖ TRỢ KHÁCH HÀNG 7 ngày trong tuần với hotline
HOTLINE HỖ TRỢ KHÁCH HÀNG
Với đội ngũ luật sư nhiều kinh nghiệm, không chỉ hướng dẫn xử lý các vấn đề về pháp luật, chúng tôi luôn đồng hành tư vấn và phát triển cùng các khách hàng đã tin tưởng sử dụng dịch vụ pháp lý của Công ty Luật Việt Phong
Bản quyền thuộc về Luật Việt Phong - Mọi sự sao chép phải được sự chấp thuận của Công ty Luật Việt Phong bằng văn bản. (© Copyright 2009 - 2017), ® All Reserved.
01900 6589