Lượt xem: 1033
Lượt xem: 1033

Vấn đề con chung và tài sản của vợ chồng khi ly hôn

Tóm tắt câu hỏi

Em có chồng và có một con 16 tháng. Nếu em ly hôn thì quyền nuôi con thuộc về ai? Còn về tài sản thì lúc kết hôn, em được bên chồng cho 4 cây vàng nhưng em đã bán để trả nợ cho chồng em hết rồi, còn chồng em thì đang đứng tên 10 mảnh đất. Vậy, đối với quyền sử dụng 10 mảnh đất kia thì em có được chia hay không?
Kính mong nhận được lời tư vấn từ phía Luật sư! Em xin cám ơn Luật sư!
Người gửi: Thu Thủy

Liên hệ luật sư và đăng ký sử dụng dịch vụ gọi 1900 6589

Luật sư tư vấn

Xin chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình tới Luật Việt Phong. Về câu hỏi của bạn, công ty Luật Việt Phong xin tư vấn và hướng dẫn bạn như sau:

1/ Căn cứ pháp lý

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Luật Đất đai năm 2013. 

2/ Vấn đề con chung và tài sản của vợ chồng khi ly hôn

Theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn thì: 
"1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con
Do con bạn mới có 16 tháng tuổi nên khi vợ chồng bạn ly hôn thì con bạn sẽ được giao cho bạn trực tiếp nuôi dưỡng. Tuy nhiên, nếu bạn không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc giữa bạn và chồng bạn có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con thì quyền được nuôi con có thể sẽ thuộc về chồng bạn. 
Căn cứ theo quy định tại Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn thì việc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như sau:
+ Nếu vợ chồng bạn có thỏa thuận về chế độ tài sản, được lập trước khi kết hôn bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đã lập đó. Nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tại các Khoản 2, 3, 4, và 5 Điều 59 và tại các Điều 60, 61, 62, 63 và 64 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết. 
+ Trường hợp vợ chồng bạn không có thỏa thuận nào liên quan đến chế độ tài sản hoặc có thỏa thuận nhưng thỏa thuận này bị Tòa án tuyên bố vô hiệu theo quy định tại Điều 50 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì khi đó chế độ tài sản của vợ chồng bạn được xác định là chế độ tài sản theo luật định. Như vậy, tài sản giữa vợ chồng bạn khi ly hôn được giải quyết phụ thuộc vào thỏa thuận của hai bên, nếu không thỏa thuận được thì tùy theo yêu cầu của bạn, chồng bạn hoặc cả hai vợ chồng mà Tòa án sẽ giải quyết theo quy định tại các Khoản 2, 3, 4, và 5 Điều 59 và tại các Điều 60, 61, 62, 63 và 64 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
Đối chiếu với quy định trên, ta thấy, quyền sử dụng 10 mảnh đất có đứng tên chồng bạn được chia như sau:
Căn cứ theo quy định tại Khoản 4 Điều 98 Luật đất đai năm 2013 thì: 
"Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng thì phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, trừ trường hợp vợ và chồng có thỏa thuận ghi tên một người.
Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng mà Giấy chứng nhận đã cấp chỉ ghi họ, tên của vợ hoặc chồng thì được cấp đổi sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất để ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng nếu có yêu cầu
Như vậy, việc chồng bạn đứng tên trên 10 mảnh đất kia vẫn chưa đủ căn cứ để có thể khẳng định được rằng đó là tài sản riêng của chồng bạn hay là tài sản chung của vợ chồng bạn, bởi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có thể chỉ ghi chữ kí của một trong hai bên vợ chồng nếu hai bên có thỏa thuận. 
Việc chia quyền sử dụng đất này khi vợ chồng bạn ly hôn sẽ được thực hiện theo quy định tại Điều 62 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Cụ thể, nếu quyền sử dụng 10 mảnh đất đó là tài sản của chồng bạn có trước thời kì hôn nhân và hai bên cũng không thỏa thuận đó là tài sản chung hoặc trường hợp quyền sử dụng đất đó chồng bạn được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng thì quyền sử dụng 10 mảnh đất kia sẽ được xác định là tài sản riêng của chồng bạn. Khi vợ chồng bạn ly hôn, nếu không thỏa thuận khác thì quyền sử dụng 10 mảnh đất đó vẫn thuộc về chồng bạn (theo Khoản 1 Điều 62 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014). 
  Nếu quyền sử dụng 10 mảnh đất đó được xác định là tài sản chung của vợ chồng, khi ly hôn nếu hai bên không có thỏa thuận nào khác thì việc chia quyền sử dụng đất đó được thực hiện như sau:
"a) Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thỏa thuận của hai bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 59 của Luật này.
Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng;
b) Trong trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định tại điểm a khoản này;
c) Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở thì được chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này;
d) Đối với loại đất khác thì được chia theo quy định của pháp luật về đất đai
(theo Khoản 2 Điều 62 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Việt Phong về vấn đề Vấn đề chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn. Chúng tôi hi vọng rằng quý khách có thể vận dụng các kiến thức kể trên để sử dụng trong công việc và cuộc sống. Nếu có vấn đề pháp lý nào khác cần tư vấn quý khách vui lòng gọi điện tới tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 24/7 của Công ty Luật Việt Phong để gặp luật sư tư vấn và chuyên viên pháp lý.
Chuyên viên: Phạm Nhung
 
LIKE VÀ SHARE ĐỂ ỦNG HỘ TÁC GIẢ
LIKE VÀ SHARE ĐỂ ỦNG HỘ TÁC GIẢ
Bài viết liên quan
 
 
Tổng đài luật sư tư vấn pháp luật
Văn phòng phía Bắc (Hà Nội)
Số 6A, Ngõ 76 đường Trần Thái Tông, Q. Cầu Giấy, HN
Văn phòng phía Nam (HỒ CHÍ MINH)
Số 596/14 Trường Chinh, Phường 13, Q. Tân Bình TP. HCM
Hỗ trợ tư vấn pháp luật trực tuyến
Nhánh 1
Nhánh 1
Tư vấn doanh nghiệp, giấy phép, thuế - kế toán
Nhánh 2
Nhánh 2
Tư vấn sở hữu trí tuệ, dân sự, hình sự
Nhánh 3
Nhánh 3
Tư vấn hôn nhân và gia đình, hành chính, thương mại
Nhánh 4
Nhánh 4
Tư vấn lao động, bảo hiểm, đất đai
Nhánh 5
Nhánh 5
Tư vấn pháp luật các lĩnh vực khác
Dịch vụ nổi bật tại Luật Việt Phong
Bản đồ đường tới Luật Việt Phong
Kết nối với chúng tôi trên Facebook
Kết nối với chúng tôi trên Youtube
 
CHÚNG TÔI HỖ TRỢ KHÁCH HÀNG 7 ngày trong tuần với hotline
HOTLINE HỖ TRỢ KHÁCH HÀNG
Với đội ngũ luật sư nhiều kinh nghiệm, không chỉ hướng dẫn xử lý các vấn đề về pháp luật, chúng tôi luôn đồng hành tư vấn và phát triển cùng các khách hàng đã tin tưởng sử dụng dịch vụ pháp lý của Công ty Luật Việt Phong
Bản quyền thuộc về Luật Việt Phong - Mọi sự sao chép phải được sự chấp thuận của Công ty Luật Việt Phong bằng văn bản. (© Copyright 2009 - 2018), ® All Reserved.
01900 6589