Có thể tố cáo người trong gia đình hay không?

Tóm tắt câu hỏi: 

Thưa Luật sư, rất mong các Luật sư có thể giúp đỡ em trong tình huống này! Tôi có một người cậu ruột nghiện ma túy, rất nhiều lần về nhà lấy tài sản của gia đình, lúc thì lấy tiền,  lúc thì lấy điện thoại, xe máy,… mang đi bán lấy tiền mua ma túy chơi. Gia đình tôi đã trình báo lên Công an phường nhưng phía công an nói họ không giải quyết do đây là lấy tài sản của gia đình. Hôm trước, lúc em đi học về tối, cậu em đứng chặn em trên đường và lấy của em 1 chiếc điện thoại di dộng trị giá khoảng 3 triệu, yêu cầu em đưa 300.000 đồng thì cậu giả lại điện thoại. Lúc đó em không mang theo tiền nên cậu đã cầm chiếc điện thoại đi. Vậy em muốn hỏi, việc này có thể đến trình báo tại cơ quan công an và yêu cầu giải quyết không ạ? Và làm thế nào để gia đình em có thể giải quyết dứt điểm tình trạng này? Rất mong anh chị luật sư có thể giúp đỡ gia đình em. Em cảm ơn ạ!
Người gửi: Tạ Văn Sơn

Luật sư tư vấn:

Xin chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến luật Việt Phong. Về vấn đề của bạn, công ty luật Việt Phong xin tư vấn giúp bạn như sau:

1. Căn cứ pháp luật:

– Luật Khiếu nại, tố cáo;
– Bộ luật tố tụng Hình sự 2003;
– Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi 2009.

2. Có thể tố cáo người trong gia đình hay không?

Trước hết, bạn cần biết rằng quyền tố cáo là quyền cơ bản của công dân được quy định cụ thể tại Hiến pháp, Luật Khiếu nại, tố cáo, Bộ luật tố tụng dân sự… như sau:
Mọi công dân đều có quyền tố cáo về hành vi trái pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức (Khoản 2 Điều 1 Luật Khiếu nại, tố cáo).
Do đó, bất cứ ai, có mối quan hệ như thế nào với người có hành vi trái pháp luật đều có quyền được tố cáo mà không có bất cứ yếu tố nào cản trở. Trong trường hợp của bạn, người có hành vi trái pháp luật là cậu ruột của bạn, tuy nhiên, không vì thế mà bạn và gia đình mất đi quyền tố cáo, bạn hoàn toàn có thể trình bày hoặc gửi đơn lên cơ quan có thẩm quyền và yêu cầu giải quyết.
Với hành vi nhiều lần về nhà lấy tài sản của gia đình để mua ma túy, cậu bạn có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Trộm cắp tài sản hoặc tội Công nhiên chiếm đoạt tài sản được quy định tại Bộ Luật hình sự 1999 sửa đổi 2009 như sau:
Điều 138. Tội trộm cắp tài sản
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;
đ) Hành hung để tẩu thoát;
e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
g) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. 
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng.
Điều 137. Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản
1. Người nào công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Hành hung để tẩu thoát;
b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Gây hậu quả nghiêm trọng.
 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến một trăm triệu đồng.
Còn đối với hành vi chặn đường, lấy điện thoại và yêu cầu bạn đưa 300.000 đồng mới trả điện thoại, cậu của bạn có thể bị truy cứu về hành vi Cưỡng đoạt tài sản được quy định cụ thể tại điều 135 – Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi 2009 như sau:
Điều 135. Tội cưỡng đoạt tài sản 
1. Người nào đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:
a) Có tổ chức;          
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
đ) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản
Ngoài ra, cậu của bạn cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, được quy định cụ thể tại Điều 199, Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi 2009 như sau:
Điều 199. Tội sử dụng trái phép chất ma túy
 1. Người nào sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, đã được giáo dục nhiều lần và đã bị xử lý hành chính bằng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc mà còn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.
 2. Tái phạm tội này thì bị phạt tù từ hai năm đến năm năm.
Căn cứ vào quy định của pháp luật về quyền tố cáo của công dân, căn cứ vào các hành vi của cậu ruột của bạn, bạn hoàn toàn có thể tố cáo tới các cơ quan có thẩm quyền và yêu cầu để được giải quyết vấn đề này mà không bị bất cứ yếu tố nào cản trở.
Trên đây là tư vấn của công ty Luật Việt Phong về Có thể tố cáo người trong gia đình hay không? Chúng tôi hi vọng rằng quý khách có thể vận dụng các kiến thức kể trên để sử dụng trong công việc và cuộc sống. Nếu có vấn đề pháp lý nào khác cần tư vấn quý khách vui lòng gọi điện tới tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 24/7 của công ty Luật Việt Phong để gặp luật sư tư vấn và chuyên viên pháp lý.
Chuyên viên: Hoàng Phương Dung

Bài viết được thực hiện bởi: Luật sư. Nguyễn Văn Đại (Công ty Luật TNHH Việt Phong)

Để được giải đáp thắc mắc về: Có thể tố cáo người trong gia đình hay không?
Vui lòng gọi Tổng đài luật sư tư vấn pháp luật 24/7: 1900 6589

Để gửi Email tư vấn pháp luật, Báo giá dịch vụ pháp lý hoặc đặt Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp.
Vui lòng click tại đây

CÔNG TY LUẬT TNHH VIỆT PHONG

 Hà Nội – Biệt thự 2.11 đường Nguyễn Xuân Khoát, KĐT Ngoại Giao Đoàn, Q. Bắc Từ Liêm
– Số 82 Nguyễn Tuân, Phường Thanh Xuân Trung, Quận Thanh Xuân

 Bắc Giang – 65-67 khu Minh Khai, Thị trấn Chũ, huyện Lục Ngạn

Vui lòng đánh giá bài viết

Nếu có vướng mắc bạn vui lòng liên hệ tổng đài 24/7 1900 633 283

hoặc Bạn có thể lick vào các ô dưới đây để gửi Email cho chúng tôi, Luật Việt Phong luôn sẵn sàng để hỗ trợ bạn

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Bài viết cùng chủ đề