Giao dịch dân sự trong thời kỳ hôn nhân

Đăng tải ngày Tư vấn luật dân sự 11 lượt xem

Kính gửi công ty Luật Việt Phong, tôi có thắc mắc muốn nhờ luật sư tư vấn là một mảnh đất của anh A được bố mẹ cho trước khi cưới vợ và bây giờ đã lấy vợ rồi thì khi tiến hành giao dịch đối với mảnh đất đó thì có phải cần chữ kí của vợ không?

Đức Mạnh

Căn cứ pháp lý

-Nghị định 126/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và gia đình

Luật sư tư vấn

Xin chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình tới Công ty Luật Việt Phong, đối với câu hỏi của bạn Công ty Luật Việt Phong xin được tư vấn và hướng dẫn cho bạn như sau: theo những thông tin bạn chia sẻ, chúng tôi thấy rằng bạn đang thắc mắc về vấn đề pháp lý liên quan đến thực hiện giao dịch thuộc đối tượng là bất động sản có được trước thời kỳ hôn nhân tuy nhiên lại diễn ra trong thời kỳ hôn nhân.

Dựa theo thông tin được cung cấp và căn cứ theo pháp luật dân sự về hôn nhân, gia đình, trước hết theo quy định hiện hành về chế độ tài sản của vợ chồng, có 2 hình thức đó là:

– Chế độ tài sản theo luật định ( được quy định tại mục 2 chương II Nghị định 126/2014/NĐ-CP )

– Chế độ tài sản theo thỏa thuận ( được quy định tại mục 3 chương II Nghị định 126/2014/NĐ-CP )

Theo đó, trong trường hợp vợ chồng không có thỏa thuận về chế độ tài sản thì sẽ áp dụng chế độ tài sản theo luật định căn cứ theo quy định tại điều 7 Nghị định 126/2014/NĐ-CP:

Điều 7. Áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định
Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định được áp dụng trong trường hợp vợ chồng không lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận hoặc có thỏa thuận về chế độ tài sản nhưng thỏa thuận này bị Tòa án tuyên bố vô hiệu theo quy định tại Điều 50 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Áp dụng vào sự việc này và căn cứ theo quy định hướng dẫn cho điều 7 Nghị định 126/2014, việc tặng cho mảnh đất được xảy ra trước thời kỳ hôn nhân và không có thỏa thuận của vợ chồng về việc sát nhập thành tài sản chung của vợ chồng thì theo quy định tại khoản 3 điều 33 Luật hôn nhân và gia đình:

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng
3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Theo đó, người đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được quyền tự mình tiến hành các giao dịch liên quan đến bất động sản khi có căn cứ về việc tặng cho tài sản thuộc sở hữu riêng.

Ngoài ra, quy định bổ sung khác đảm bảo cho quyền lợi của cá nhân được tặng cho tài sản trước thời kỳ hôn nhân, căn cứ theo điều 43 Luật hôn nhân và gia đình quy định:

Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng
1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.
2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.

Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Việt Phong về giao dịch liên quan đến chế độ tài sản của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân. Chúng tôi hi vọng rằng bạn có thể vận dụng các kiến thức kể trên để sử dụng trong công việc và cuộc sống. Nếu có vấn đề pháp lý nào khác cần tư vấn bạn vui lòng gọi điện tới tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 24/7 của Công ty Luật Việt Phong để gặp luật sư tư vấn và chuyên viên pháp lý.

Chuyên viên: Đức Luân

Vui lòng đánh giá bài viết

Nếu có vướng mắc bạn vui lòng liên hệ tổng đài 24/7 1900 6589

hoặc Bạn có thể lick vào các ô dưới đây để gửi Email cho chúng tôi, Luật Việt Phong luôn sẵn sàng để hỗ trợ bạn

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Bài viết cùng chủ đề

Escort Sitesi Seo Diyarbakır Escort