Năng lực chịu trách nhiệm về bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật hiện hành

Posted on Tư vấn luật dân sự 46 lượt xem

Bất kì ai cũng có thể gây ra những hành vi vi phạm và gây ra thiệt hại, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi đó có thể do cá nhân gây ra, do tài sản gây ra, do người của pháp nhân, người của cơ quan nhà nước gây ra… Nhưng không phải trong trường hợp nào cá nhân cũng có đủ năng lực để bồi thường thiệt hại. Vậy nên, Luật Việt Phong xin chia sẻ những kiến thức liên quan về năng lực bồi thường thiệt hại theo pháp luật Việt Nam.
Căn cứ pháp luật:
Luật sư tư vấn:
1.Năng lực bồi thường thiệt hại của cá nhân 

Bồi thường thiệt hại được đặt ra khi cá nhân có hành vi vi phạm và gây ra thiệt hại. Cá nhân đó phải bồi thường cho những tổn thất, thiệt hại mà mình đã gây ra.
Trong các trường hợp bồi thường thiệt hại thì cá nhân phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định tại Điều 586 Bộ luật Dân sự như sau:

“1. Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.
2. Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật này.
Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
3. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.”
2. Năng lực bồi thường thiệt hại của người đã thành niên 

Khoản 1 Điều 586 BLDS năm 2015 quy định:
“Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường”

Người từ đủ 18 tuổi trở lên đã có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực pháp luật để chịu trách nhiệm cho hành vi và phải chịu trách nhiệm cho hành vi vi phạm bằng chính tài sản của họ. 
Trong thực tế, nhiều cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực pháp luật nhưng không có khả năng về tài sản thì cha mẹ có thể tự nguyện bồi thường thay cho họ và không buộc cha mẹ bồi thường thay.
3. Năng lực bồi thường thiệt hại của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Người dưới 18 tuổi là người chưa thành niên, chưa có đầy đủ năng lực hành vi dân sự vậy nên cha mẹ hoặc người giám hộ là người phải bồi thường thiệt hại. 
Đối với người chưa đủ 15 tuổi và người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi

Căn cứ theo Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015:
“Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên”.

Khoản 2 Điều 586 BLDS quy định:
“Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật này.
Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.”
Đối với người dưới 15 tuổi thì cha mẹ hoặc người giám hộ phải dùng tài sản của mình để bồi thường, nếu tài sản của cha mẹ hoặc người giám hộ không đủ mà con có tài sản riêng thì lấy tài sản của con để bồi thường. 
Đối với những người từ 15 đến dưới 18 tuổi thì dùng tài sản của con bồi thường, nếu không đủ thì cha mẹ hoặc người giám hộ chịu trách nhiệm bổ sung phần còn thiếu.
Đối với người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Pháp luật quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của những người này tại Khoản 3 Điều 586 BLDS
“Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.”
Nếu người giám hộ chứng minh được rằng mình không có lỗi thì họ không phải bồi thường. Trong trường hợp người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại thì trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại thuộc về cha mẹ hoặc trong trường hợp khác thì người giám hộ chỉ là người dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường thiệt hại chứ không có trách nhiệm bồi thường thay. Nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản thì người giám hộ phải dùng tài sản của mình để bồi thường cho hành vi gây thiệt hại. 
Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Việt Phong về năng lực bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật hiện hành. Chúng tôi hi vọng rằng bạn có thể vận dụng các kiến thức kể trên để sử dụng trong công việc và cuộc sống. Nếu có vấn đề pháp lý nào khác cần tư vấn bạn vui lòng gọi điện tới tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 24/7 của Công ty Luật Việt Phong để gặp luật sư tư vấn và chuyên viên pháp luật.

Bài viết được thực hiện bởi: Đỗ Ngọc Huyền

Để được giải đáp thắc mắc về: Năng lực chịu trách nhiệm về bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật hiện hành
Vui lòng gọi Tổng đài luật sư tư vấn pháp luật 24/7: 1900 6589

Để gửi Email tư vấn pháp luật, Báo giá dịch vụ pháp lý hoặc đặt Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp.
Vui lòng click tại đây

CÔNG TY LUẬT TNHH VIỆT PHONG

 Hà Nội – Biệt thự 2.11 đường Nguyễn Xuân Khoát, KĐT Ngoại Giao Đoàn, Q. Bắc Từ Liêm
– Số 82 Nguyễn Tuân, Phường Thanh Xuân Trung, Quận Thanh Xuân

 Bắc Giang – 65-67 khu Minh Khai, Thị trấn Chũ, huyện Lục Ngạn

Vui lòng đánh giá bài viết

Nếu có vướng mắc bạn vui lòng liên hệ tổng đài 24/7 1900 6589

hoặc Bạn có thể lick vào các ô dưới đây để gửi Email cho chúng tôi, Luật Việt Phong luôn sẵn sàng để hỗ trợ bạn

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Bài viết cùng chủ đề