Thời hiệu truy cứu trách nhiệm Hình sự với người đã phạm tội trong quá khứ

Tóm tắt tình huống:

Tôi là công nhân tại nhà máy gạch Đức Phúc làm việc tại quê nhà. Cách đây 6 năm, lúc còn thanh niên tôi cùng 2 người bạn có đánh nhau gây thương tích 30% cho một người ở làng bên nhưng vì trời tối, anh ta không nhận ra cũng không có chứng cứ gì nên chúng tôi không bị phát hiện. 6 năm qua tôi tu chí làm ăn, không vi phạm pháp luật nhưng bây giờ người bạn trước kia cùng đi đánh nhau với tôi phạm tội và bị bắt có khai ra chuyện năm xưa. Vậy tôi có bị bắt vì hành vi 6 năm trước hay không? Tôi xin cảm ơn.
Người gửi: Nguyễn Văn Phong

Luật sư tư vấn:

Chào anh, cảm ơn anh đã gửi câu hỏi của mình tới công ty luật Việt Phong. Về câu hỏi của anh, công ty luật Việt Phong xin tư vấn và hướng dẫn anh như sau:

1/ Cơ sở pháp lý

2/ Thời hiệu truy cứu trách nhiệm Hình sự với người đã phạm tội trong quá khứ.

Theo thông tin anh cung cấp, 6 năm trước anh có gây thương tích 30% cho một người làng bên nhưng không bị phát hiện và cũng không tiếp tục phạm tội. Hành vi 6 năm trước của anh có thể bị truy cứu về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác quy định tại Điều 104 BLHS 1999 sửa đổi bổ sung 2009 như sau:
1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:
a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;
b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;
c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;
d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;
e) Có tổ chức;
g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;
h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;
i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;
k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì  lý do công vụ của nạn nhân.
2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật  từ  61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.
 4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.
Như vậy, nếu anh chỉ phạm tội cố ý gây thương tích mà không có tình tiết tăng nặng sẽ là tội phạm ít nghiêm trọng có thời hiệu quy định tại Điều 23 BLHS 1999 sửa đổi bổ sung 2009 như sau:
1. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
2. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:
a) Năm năm đối với các tội phạm ít nghiêm trọng;
b) Mười năm đối với các tội phạm nghiêm trọng;
c) Mười lăm năm đối với các tội phạm rất nghiêm trọng;
d)  Hai mươi năm đối với các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
3. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này người phạm tội lại phạm tội mới mà Bộ luật quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên một năm tù, thì thời gian đã qua không được tính và thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày phạm tội mới.
Nếu trong thời hạn nói trên, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có lệnh truy nã, thì thời gian trốn tránh không được tính và thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra tự thú hoặc bị bắt giữ.
Căn cứ vào quy định trên, vì anh đã phạm tội ít nghiêm trọng và đã có 6 năm không phạm tội mới nên thời hiệu truy cứu trách nhiệm Hình sự về hành vi của anh đã hết. Vì vậy, anh sẽ không bị truy cứu trách nhiệm Hình sự về hành vi cố ý gây thương tích 6 năm trước.
Trên đây là tư vấn của Công ty Luật Việt Phong về Thời hiệu truy cứu trách nhiệm Hình sự với người đã phạm tội trong quá khứ. Chúng tôi hi vọng rằng quý khách có thể vận dụng các kiến thức kể trên để sử dụng trong công việc và cuộc sống. Nếu có vấn đề pháp lý nào khác cần tư vấn quý khách vui lòng gọi điện tới tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 24/7 của công ty Luật Việt Phong để gặp luật sư tư vấn và chuyên viên pháp lý.
Chuyên viên: Đỗ Đức Toàn 

Bài viết được thực hiện bởi: Luật sư. Nguyễn Văn Đại

Để được giải đáp thắc mắc về: Thời hiệu truy cứu trách nhiệm Hình sự với người đã phạm tội trong quá khứ
Vui lòng gọi Tổng đài luật sư tư vấn pháp luật 24/7: 1900 6589

Để gửi Email tư vấn pháp luật, Báo giá dịch vụ pháp lý hoặc đặt Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp.
Vui lòng click tại đây

CÔNG TY LUẬT TNHH VIỆT PHONG

 Hà Nội – Biệt thự 2.11 đường Nguyễn Xuân Khoát, KĐT Ngoại Giao Đoàn, Q. Bắc Từ Liêm
– Số 82 Nguyễn Tuân, Phường Thanh Xuân Trung, Quận Thanh Xuân

 Bắc Giang – 65-67 khu Minh Khai, Thị trấn Chũ, huyện Lục Ngạn

Vui lòng đánh giá bài viết

Nếu có vướng mắc bạn vui lòng liên hệ với Luật sư 1900 633 283

hoặc Bạn có thể click vào các ô dưới đây để gửi Email cho chúng tôi, Luật Việt Phong luôn sẵn sàng để hỗ trợ bạn

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bài viết cùng chủ đề