Tội lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản

Tóm tắt tình huống:

Xin chào Luật sư, mong Luật sư tư vấn cho tôi về vấn đề sau đây:
Tôi có chơi thân với một người bạn, chúng tôi chơi với nhau đã được 20 năm  nay, chúng tôi luôn đi ăn uống, đi chơi cùng nhau, thậm chí nếu như có khó khăn gì trong công việc chúng tôi sẽ cố gắng giúp đỡ nhau để có thể hoàn thành tốt hơn công việc của mình. Vì quá tin tưởng bạn và mong muốn được phát triển việc kinh doanh của mình hơn cho nên chính vì vậy, khi bạn tôi có nói với tôi rằng: tôi với ông mỗi người cùng nhau góp 300 triệu đồng, để đầu tư mua chứng khoán tại một công ty tại Đà Nẵng, vì bạn tôi nói rằng đầu tư vào công ty chắc chắn sẽ có lãi suất cao, mang lại nguồn thu lớn cho cả 2 người. Cùng với sự phân tích của bạn tôi, tôi đã tin tưởng và đồng ý đưa cho bạn tôi 300 triệu đồng để đầu tư để mua cổ phần của công ty đó.
Sau một thời gian mua cổ phần, tôi đã hỏi bạn tôi rằng là việc đầu tư như thế nào rồi, thì bạn tôi trả lời là việc đầu tư thua lỗ và không mang lại lợi nhuận gì.
Nhưng tôi đã điều tra lại về công ty đó, thì việc mua cổ phần tại công ty đó không được bạn tôi mua, mà là bạn tôi đã dùng số tiền đó để trả nợ cho việc đánh bạc của bạn tôi. 
Luật sư cho tôi hỏi, nếu như tôi khởi kiện bạn tôi ra tòa, thì bạn tôi sẽ bị xử phạt về tội gì? Và mức phạt sẽ như thế nào?
Người gửi: Phạm Thế Anh

 Luật sư tư vấn:

Xin chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Luật Việt Phong. Về vấn đề của bạn, công ty Luật Việt Phong xin tư vấn giúp bạn như sau:

1. Căn cứ pháp lý

– Bộ luật hình sự 1999 ( sửa đổi, bổ sung năm 2009) ( BLHS).

2. Bạn của anh sẽ bị xử phạt về tội lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản ( Điều 139 BLHS)

Theo như anh cung cấp thông tin đến cho chúng tôi, thì hành vi của bạn anh đã cấu thành về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tại Điều 139 BLHS quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:
“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
g) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân :
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”
 Để có thể khẳng định được như vậy, chúng tôi đưa ra các căn cứ sau đây: 
Về khách thể của tội phạm
 Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là quan hệ sở hữu. Trong trường hợp này thì khách thể của tội phạm do bạn anh thực hiện là quan hệ sở hữu của anh đối với số tiền là 300 triệu đồng mà bạn anh đã chiếm đoạt.
Về mặt khách quan của tội phạm
– Hành vi khách quan 
Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản cấu thành khi thỏa mãn một trong các dấu hiệu sau đây:
– Tài sản chiếm đoạt có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên;
– Gây hậu quả nghiêm trọng;
– Đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt;
– Đã bị kết án về tội chiếm đoạt và chưa được xóa án tích.
Hành vi của bạn anh đã thỏa mãn dấu hiệu thứ nhất của hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản ( số tiền mà bạn anh chiếm đoạt lớn hơn 2.000.000 đồng).
Xét về mặt khách quan, hành vi lừa dối là hành vi cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm để người khác tin đó là sự thật. Cụ thể trong trường hợp này bạn anh biết rằng việc dùng số tiền 300 triệu đó của anh để giả nợ đánh bạc, nhưng bạn anh lại dùng số tiền đó để nói dối với anh rằng: bạn anh dùng số tiền đó để đầu tư vào công ty để mua chứng khoán tại Đà Nẵng
+) Hình thức của hành vi lừa dối: hành vi lừa dối ở trong trường hợp đó là đưa ra những thông tin không đúng sự thật ( bạn anh đã nói với anh: tôi với ông mỗi người cùng nhau góp 300 triệu đồng, để đầu tư mua chứng khoán tại một công ty tại Đà Nẵng và đầu tư vào công ty chắc chắn sẽ có lãi suất cao).  Tội lừa đảo được coi là hoàn thành ở thời điểm người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản. Nghĩa là tội phạm do bạn anh thực hiện đã ở giai đoạn tội phạm hình thành.
+) Hành vi chiếm đoạt : Trong trường hợp này, tài sản bị chiếm hữu giờ đang ở trong sự chiếm hữu của người phạm tội, ở đây bạn anh đã chiếm đoạt tài sản của anh là 300 triệu đồng. Hành vi lừa dối là điều kiện để hành vi chiếm đoạt có thể xảy ra, còn hành vi chiếm đoạt là mục đích và là kết quả của hành vi lừa dối.
+) Hậu quả:” Hậu quả của tội phạm là thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho quan hệ xã hội là khách thể bảo vệ của luật hình sự”. Việc xác định hậu quả của tội phạm có ý nghĩa trong việc định tội cũng như quyết định hình phạt cho bạn anh.
Hậu quả của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là thiệt hại về tài sản mà cụ thể là giá trị tài sản bị chiếm đoạt. Hậu quả do hành vi của bạn anh gây ra là những thiệt hại cho quan hệ sở hữu thể hiện dưới dạng thiệt hại về vật chất. Trong trường hợp này, số tiền 300 triệu đồng mà lẽ ra nó sẽ là của anh, nhưng bạn anh lại dùng số tiền đó để phục vụ cho mục đích riêng.
– Quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả
Hành vi chiếm đoạt tài sản trị giá 300 triệu là kết quả của hành vi lừa dối, hành vi chiếm đoạt xảy ra ngay khi hành vi lừa dối được hoàn thành. 
Về mặt chủ quan của tội phạm
– Lỗi: Lỗi của bạn anh khi thực hiện tội phạm là lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội biết mình có hành vi lừa dối và mong muốn hành vi lừa dối có kết quả để có thể chiếm đoạt được tài sản, ở đây bạn anh đã có hành vi lừa dối và mong muốn hành vi lừa dối có kết quả để có thể chiếm đoạt được tài sản, bạn anh đã có chủ tâm chiếm đoạt tài sản của anh và hành động để biến mục đích của mình được thực hiện.
– Về lý trí: Người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm của hành vi của mình và thấy trước hậu quả của hành vi đó. Bạn anh nhận thức rõ được tính chất nguy hiểm của hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của mình là nguy hiểm cho xã hội và cũng nhận thức được hậu quả do hành vi đó gây ra.
– Về ý chí: Người phạm tội mong muốn hậu quả phát sinh, có nghĩa là hậu quả của hành vi phạm tội mà người phạm tội thấy trước hoàn toàn phù hợp với mục đích. Ở đây bạn anh mong muốn mình chiếm đoạt được tiền của anh ( cụ thể là số tiền là 300 triệu đồng). Hậu quả này phù hợp với mục đích khi thực hiện hành vi phạm tội của bạn anh.
– Động cơ và mục đích phạm tội:  Trường hợp này, động cơ và mục đích phạm tội của bạn có tính chất tư lợi, lấy tiền để phục vụ nhu cầu cá nhân của mình
Từ những căn cứ pháp lý và các dấu hiệu của tội phạm nêu trên, bạn anh đã cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 3 điều 139 BLHS: “Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng”. Vì vậy, khung hình phạt mà Tòa án có thể áp dụng khung hình phạt đối với bạn anh sẽ từ bảy năm đến mười lăm năm.
Trên đây là tư vấn của công ty Luật Việt Phong  về quy định của pháp luật về Tội lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản. Chúng tôi hi vọng rằng quý khách có thể vận dụng các kiến thức kể trên để sử dụng trong công việc và cuộc sống. Nếu có vấn đề pháp lý nào khác cần tư vấn quý khách vui lòng gọi điện tới tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 24/7 của công ty Luật Việt Phong để gặp luật sư tư vấn và chuyên viên pháp lý.
Chuyên viên: Nguyễn Thị Châu

Bài viết được thực hiện bởi: Luật sư. Nguyễn Văn Đại (Công ty Luật TNHH Việt Phong)

Để được giải đáp thắc mắc về: Tội lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản
Vui lòng gọi Tổng đài luật sư tư vấn pháp luật 24/7: 1900 6589

Để gửi Email tư vấn pháp luật, Báo giá dịch vụ pháp lý hoặc đặt Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp.
Vui lòng click tại đây

CÔNG TY LUẬT TNHH VIỆT PHONG

 Hà Nội – Biệt thự 2.11 đường Nguyễn Xuân Khoát, KĐT Ngoại Giao Đoàn, Q. Bắc Từ Liêm
– Số 82 Nguyễn Tuân, Phường Thanh Xuân Trung, Quận Thanh Xuân

 Bắc Giang – 65-67 khu Minh Khai, Thị trấn Chũ, huyện Lục Ngạn

 Hưng Yên – Số 73 đường Nguyễn Văn Linh, Phường Bần Yên Nhân, Thị xã Mỹ Hào

Vui lòng đánh giá bài viết

Nếu có vướng mắc bạn vui lòng liên hệ với Luật sư 1900 633 283

hoặc Bạn có thể click vào các ô dưới đây để gửi Email cho chúng tôi, Luật Việt Phong luôn sẵn sàng để hỗ trợ bạn

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bài viết cùng chủ đề