Quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Tóm tắt tình huống:

Năm ngoái em gái em có mua xe ô tô. Trị giá xe là 600 triệu. Sau đó em gái em có thế chấp vào ngân hàng 300 triệu. Khi làm ăn không suôn sẻ thì em gái em có mang chiếc xe đó đi cắm ở hiệu cầm đồ bên ngoài số tiền là 240 triệu. Và lãi suất là 4000/triệu/ngày. Có làm giấy tờ mua bán nhưng không có dấu công chứng và giấy tờ vay tiền nhưng không có người làm chứng. Nhưng sau đó do em ấy phải đáo nợ ngân hàng, ngân hàng yêu cầu mang xe lên cho họ làm lại thủ tục thì nó có mượn lại chiếc xe ấy và bên nhà cầm đồ đã đồng ý cho mượn về để làm thủ tục. Sau đó do khó khăn nên nó đã giữ lại chiếc xe ấy và trả cho nhà cầm đồ 108 triệu tiền mặt cộng với chiếc xe máy Air Blade trị giá 50 triệu để lại. Từ thời điểm đó đến nay vừa rồi nhà nó có hẹn là 1 tháng nữa trả nốt nhưng do khó khăn nên không trả được. Có xin gia hạn họ nhưng người ta không đồng ý. Bản thân em gái em làm nhà nước lương 3.700.000/tháng, chồng không có việc làm trước đi lái xe thuê nhưng giờ họ vỡ nợ nên nghỉ ở nhà. Và phải nuôi hai đứa con nhỏ. Đứa lớn 7 tuổi và đứa bé được 4 tháng. Hiện tại em gái em đang nghỉ chế độ thai sản ở nhà người ta có đến nhà và ép trả nợ. Gia đình nó chưa bao giờ nói là không trả mà đến hẹn không có tiền xin gia hạn đàng hoàng. Nhưng nhà kia gây khó khăn. Và nói sẽ làm đơn kiện em gái em. Vậy luật sư cho em hỏi trong vụ việc này thì em gái em có bị phạm tội lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản không? Và nếu bên kia làm đơn thì sẽ bị xử lý như thế nào ạ?
Người gửi: Vũ Duy Mạnh

Luật sư tư vấn

Xin chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến Luật Việt Phong. Về vấn đề của bạn, Công ty luật Việt Phong xin tư vấn giúp bạn như sau:

1. Căn cứ pháp lý

– Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009;
– Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Điều 140 Bộ luật Hình sự quy định về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:
“Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1. Người nào có một trong những hành vi sau đây  chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:
  a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian  dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;
  b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó  vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản”
Dựa theo quy định trên, em gái bạn có hành vi mượn xe của chủ tiệm cầm đồ nhưng không trả lại, thay vào đó là trả số tiền 108 triệu đồng và một chiếc xe AirBlade trị giá 50 triệu đồng. Giữa em gái bạn và chủ tiệm cầm đồ đã có thỏa thuận gia hạn trả nợ nhưng em bạn chưa trả được do gia đình khó khăn. Như vậy, em bạn không có hành vi bỏ trốn hay gian dối để chiếm đoạt chiếc xe hoặc sử dụng chiếc xe vào việc bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại xe nên em bạn không phạm tội lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Trường hợp chủ tiệm cầm đồ kiện em gái bạn ra Tòa án, em gái bạn sẽ có nghĩa vụ phải trả nợ cho chủ tiệm cầm đồ cả gốc và lãi phát sinh theo quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự:
“1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.
3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:
a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;
b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”
Mặt khác Điều 468 – Bộ luật Dân sự quy định về lãi suất vay:
” Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực”
Khi giải quyết tại Tòa án, phần lãi suất vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay sẽ không được nhà nước bảo vệ và không có hiệu lực. Như vậy, em bạn sẽ phải trả tiền gốc và phần lãi suất về số tiền vay phải trả sẽ không vượt quá 20%/năm.
Trên đây là tư vấn của công ty Luật Việt Phong về Quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Chúng tôi hi vọng rằng quý khách có thể vận dụng các kiến thức kể trên để sử dụng trong công việc và cuộc sống. Nếu có vấn đề pháp lý nào khác cần tư vấn quý khách vui lòng gọi điện tới tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 24/7 của công ty Luật Việt Phong để gặp luật sư tư vấn và chuyên viên pháp lý.
Chuyên viên: Nguyễn Hương Diền

Bài viết được thực hiện bởi: Luật sư. Nguyễn Văn Đại (Công ty Luật TNHH Việt Phong)

Để được giải đáp thắc mắc về: Quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Vui lòng gọi Tổng đài luật sư tư vấn pháp luật 24/7: 1900 6589

Để gửi Email tư vấn pháp luật, Báo giá dịch vụ pháp lý hoặc đặt Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp.
Vui lòng click tại đây

CÔNG TY LUẬT TNHH VIỆT PHONG

 Hà Nội – Biệt thự 2.11 đường Nguyễn Xuân Khoát, KĐT Ngoại Giao Đoàn, Q. Bắc Từ Liêm
– Số 82 Nguyễn Tuân, Phường Thanh Xuân Trung, Quận Thanh Xuân

 Bắc Giang – 65-67 khu Minh Khai, Thị trấn Chũ, huyện Lục Ngạn

 Hưng Yên – Số 73 đường Nguyễn Văn Linh, Phường Bần Yên Nhân, Thị xã Mỹ Hào

Bài viết cùng chủ đề

Trả lời

escort