Bạo hành trẻ em dưới 1 tháng tuổi

Posted on Tư vấn pháp luật 155 lượt xem

Xin hỏi luật sư, bạo hành trẻ em dưới 1 tháng tuổi có bị đi tù không?- Bạn đọc Hoàng Trung Thông (Nha Trang)

ftt

Luật sư Nguyễn Văn Đại (Công ty Luật TNHH Việt Phong – Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội) tư vấn như sau:

Thứ nhất, đối tượng trẻ em:

Theo Điều 1 Luật trẻ em năm 2016 thì “trẻ em là người dưới 16 tuổi” như vậy ta hiểu rằng bạo hành trẻ em là bạo hành người dưới 16 tuổi.

Theo quy định tại khoản 6, Điều 4 Luật Trẻ em năm 2016 bạo lực trẻ em là hành vi:

-Hành hạ, ngược đãi, đánh đập;

-Xâm hại thân thể, sức khỏe;

-Lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm;

-Cô lập, xua đuổi và các hành vi cố ý khác gây tổn hại về thể chất, tinh thần trẻ em.

Như vậy, bạo hành trẻ em được hiểu là các hành vi gây tổn hại về cả thể chất lẫn tinh thần đối với trẻ em, trong đó:

– Bạo lực thể chất là hành vi dùng vũ lực với mục đích gây thương vong, tổn hại đến sức khỏe của người khác như: đánh đập, trói hoặc có hành động khác gây tổn thương cơ thể.

– Bạo lực tinh thần còn được gọi là bạo lực tình cảm, bạo lực tâm lý. Hành vi bạo lực tinh thần có thể bao gồm: chửi mắng, hạ nhục với những lời lẽ thô thiển, nặng nề; gây áp lực thường xuyên về tâm lý hoặc hành động khác gây tổn thương tinh thần. Những hành vi này mặc dù không tác động trực tiếp đến thể chất nhưng có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tinh thần và sự phát triển tâm lý của trẻ em.

Thứ hai, hành vi bạo hành bị xử lý như thế nào:

Bạo hành trẻ em là một trong những hành vi mà pháp luật Việt Nam nghiêm cấm thực hiện, trẻ em là những mầm non tương lai của đất nước và cần được bảo vệ trong xã hội vì vậy Luật trẻ em năm 2016 đã được ban hành cùng với các văn bản pháp luật khác có liên quan. Hành vi bạo hành trẻ em tùy từng mức độ vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc nghiêm trọng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Theo Điều 22, Nghị định số 130/2021/NĐ-CP quy định về mức xử phạt đối với hành vi bạo lực trẻ em như sau:

– Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

+ Bắt nhịn ăn, nhịn uống, không cho hoặc hạn chế vệ sinh cá nhân; bắt sống ở nơi có môi trường độc hại, nguy hiểm hoặc các hình thức đối xử tồi tệ khác với trẻ em;

+ Gây tổn hại về tinh thần, xúc phạm nhân phẩm, danh dự, lăng mạ, chửi mắng, đe dọa, cách ly ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em;

+ Cô lập, xua đuổi hoặc dùng các biện pháp trừng phạt để dạy trẻ em gây tổn hại về thể chất, tinh thần của trẻ em;

+ Thường xuyên đe dọa trẻ em bằng các hình ảnh, âm thanh, con vật, đồ vật làm trẻ em sợ hãi, tổn hại về tinh thần.

– Biện pháp khắc phục hậu quả:

+ Buộc chịu mọi chi phí để khám bệnh, chữa bệnh (nếu có) cho trẻ em đối với hành vi vi phạm nêu trên;

+ Buộc tiêu hủy vật phẩm gây hại cho sức khỏe trẻ em đối với hành vi thường xuyên đe dọa trẻ em bằng các hình ảnh, âm thanh, con vật, đồ vật làm trẻ em sợ hãi, tổn hại về tinh thần.

Bạo hành trẻ em có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một trong các tội như tội hành hạ người khác, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ cho người khác, tội vô ý làm chết người, tội giết người.

* Đối với tội hành hạ người khác được quy định tại Điều 140, Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017):

– Người nào đối xử tàn ác hoặc làm nhục người lệ thuộc mình nếu không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 185, Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm.

– Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 1 năm đến 3 năm:

+ Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 31% trở lên;

+ Đối với 2 người trở lên.

*  Đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ của người khác được quy định tại điểm c, khoản ,1 Điều 134, Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017):

Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% đối với người dưới 16 tuổi thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

* Đối với tội vô ý làm chết người được quy định tại Điều 128, Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017):

– Người nào vô ý làm chết người thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 1 năm đến 5 năm.

– Phạm tội làm chết 2 người trở lên thì bị phạt tù từ 3 năm đến 10 năm.

* Đối với tội giết người được quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 123, Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017):

Người nào giết người dười 16 tuổi thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.

Trẻ em là đối tượng được bảo vệ đặc biệt trong pháp luật nước ta, vì vậy trong các tội danh nêu trên, khi có tình tiết phạm tội đối với người dười 16 tuổi thì người thực hiện hành vi phạm tội có thể chịu các mức hình phạt cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, tù chung thân hoặc tử hình tùy theo tính chất và mức độ của hành vi. Như vậy, người có hành vi bạo hành trẻ em có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự tùy vào tính chất, mức độ của hành vi.

Vui lòng đánh giá bài viết

Nếu có vướng mắc bạn vui lòng liên hệ tổng đài 24/7 1900 633 283

hoặc Bạn có thể click vào các ô dưới đây để gửi Email cho chúng tôi, Luật Việt Phong luôn sẵn sàng để hỗ trợ bạn

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bài viết cùng chủ đề